QUỐC TẾ
Cập nhật 15:33 | 15/10/2018 (GMT+7)
.
Nghị viện châu Âu và những vấn đề thời sự

Quan hệ với các thể chế khác:
Kiềm chế và đối trọng

09:15 | 28/01/2018
Nghị viện châu Âu (EP) Khóa 2014 - 2019 có 751 nghị sĩ, được bầu từ 28 quốc gia thành viên với nhiệm kỳ 5 năm. Mỗi tháng, EP họp toàn thể tại Strasbourg và các cuộc họp toàn thể khác tại Brussels. Giống như Nghị viện của một quốc gia, quan hệ giữa EP với các cơ quan khác của EU cũng mang tính kiềm chế và đối trọng.

Quan hệ với Ủy ban châu Âu

EP được trao quyền bầu Chủ tịch Ủy ban châu Âu và thông qua danh sách thành viên của Ủy ban. Sau khi Chính phủ các nước thành viên giới thiệu ứng cử viên cho chức Chủ tịch, ứng cử viên đó phải thuyết trình trước Nghị viện. EP sẽ thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm đối với ứng cử viên này. Nếu đa số nghị sĩ không tán thành, Chủ tịch Nghị viện sẽ yêu cầu giới thiệu ứng cử viên mới.

Tương tự đối với các ứng cử viên Ủy ban châu Âu. Họ sẽ phải trình bày trước các Ủy ban của EP, tùy theo lĩnh vực họ đảm nhận. Đây gần như một phiên điều trần tại Nghị viện bởi các nghị sĩ được quyền yêu cầu ứng cử viên diễn giải, trả lời câu hỏi về những vấn đề mà ủy ban quan tâm. Quy trình này cũng kết thúc bằng một cuộc bỏ phiếu.

Ủy ban chịu trách nhiệm trực tiếp về hoạt động của mình trước Nghị viện, Hội đồng Bộ trưởng và Hội đồng châu Âu. Hàng năm, Ủy ban phải đệ trình Báo cáo tổng kết hoạt động của EU và chương trình làm việc hàng năm lên Nghị viện. Quan hệ giữa hai thể chế này còn được thể hiện thông qua hình thức chất vấn các thành viên Ủy ban bằng văn bản hay trực tiếp về những vấn đề nghị sĩ quan tâm.

EP còn có một công cụ giám sát quan trọng khác là kiến nghị bãi miễn Ủy ban châu Âu. Nhóm nghị sĩ chiếm 10% tổng số nghị sĩ của Nghị viện có thể đệ trình lên Chủ tịch EP, kiến nghị sau đó sẽ được thảo luận và bỏ phiếu tại phiên họp toàn thể. Nếu được thông qua với 2/3 số phiếu ủng hộ và với sự có mặt của đa số nghị sĩ, Ủy ban châu Âu sẽ phải giải tán.

Quan hệ với Hội đồng Bộ trưởng

Về ngân sách, sau khi tiếp nhận sơ thảo dự kiến ngân sách từ Ủy ban châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng sẽ lập dự toán và trình EP xem xét và cho ý kiến. EP có thể chấp thuận hoặc chuyển cho Hội đồng bản dự toán đã sửa đổi. Hội đồng sau khi xem xét bản dự toán mới, được phép tự quyết định đối với sửa đổi của EP về những khoản chi bắt buộc, còn những sửa đổi khác phải giữ nguyên. Kết thúc quá trình này, Nghị viện là cơ quan quyết định cuối cùng về ngân sách.

Nguyên tắc “cùng quyết định” được áp dụng phổ biến trong công tác xây dựng pháp luật. Sau khi EP cho ý kiến về dự thảo luật của Ủy ban châu Âu, Hội đồng sẽ xác định “quan điểm chung” về dự án luật bằng đa số phiếu và tiếp tục chuyển lại cho EP. Khi đó, EP được quyền chấp thuận, sửa đổi hay bác bỏ ý kiến của Hội đồng. Trong trường hợp bác bỏ, hai cơ quan sẽ thành lập Ủy ban Hòa giải gồm thành viên của Hội đồng và Nghị viện.

Quan hệ với Hội đồng châu Âu

Chủ tịch EP tham dự các cuộc gặp thượng đỉnh của Hội đồng châu Âu. Hội đồng châu Âu trình bày báo cáo về mỗi cuộc họp này trước Nghị viện cũng như báo cáo hàng năm của mình về những tiến triển của EU. Về phần mình, Chủ tịch Nghị viện thông báo cho Hội đồng quan điểm của Nghị viện về những vấn đề lớn của Liên minh.
Nghị viện châu Âu cũng có mối liên hệ mật thiết với nghị viện các quốc gia thành viên thông qua Văn phòng đại diện của EP đặt tại thủ đô các nước. Trong cơ cấu tổ chức của nghị viện các nước thành viên đều có một cơ quan chịu trách nhiệm nghiên cứu và cung cấp cho nghị sĩ những thông tin về hoạt động của Liên minh, đặc biệt là các phiên họp, nghị quyết của EP.

Nghị viện châu Âu là cơ chế lập pháp đặc thù do cử tri các quốc gia thành viên trực tiếp bầu. Ngoài quyền lập pháp trong một số lĩnh vực, EP cũng có quyền giám sát về ngân sách. Về cơ bản, EP chủ yếu hoạt động theo xu hướng chính trị chung của Liên minh. Vì vậy, EP vừa hoạt động với vai trò cơ quan lập pháp của một siêu quốc gia, vừa như một cơ chế bảo đảm cho sự hợp tác liên khu vực được mạnh mẽ và hiệu quả hơn.

Quỳnh Vũ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang