QUỐC TẾ
Cập nhật 20:29 | 19/11/2017 (GMT+7)
.
Quy định pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng

UNCAC - chuẩn mực tối thiểu

07:27 | 06/08/2017
Căn cứ pháp lý mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng là Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC). Văn bản này quy định đầy đủ và toàn diện những chuẩn mực tối thiểu cho công tác thu hồi tài sản tham nhũng nói chung trên toàn cầu, để từ đó, các nước buộc phải có những điều chỉnh, quy định luật pháp phù hợp của riêng mình.

Chế định thu hồi tài sản tham nhũng được quy định tại Chương V của Công ước từ Điều 51 đến Điều 59; bao gồm quy định chung mang tính chất nguyên tắc về thu hồi tài sản tham nhũng; về phòng ngừa, phát hiện việc chuyển tài sản tham nhũng; các biện pháp thu hồi tài sản trực tiếp, cơ chế và điều kiện hợp tác quốc tế trong tịch thu, trả lại và định đoạt tài sản tham nhũng.


Ukraine thông qua Luật về cơ quan thu hồi tài sản tham nhũng năm 2016

Cơ chế phòng ngừa và phát hiện

Điều 52 về cơ chế phòng ngừa yêu cầu các quốc gia áp dụng những biện pháp cần thiết để buộc các tổ chức tài chính kiểm soát kỹ tài khoản đáng ngờ, nhân danh hoặc có liên quan đến cá nhân đang hoặc đã giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước hoặc người thân của họ. Điều này dẫn đến yêu cầu về lập pháp, đó là các quốc gia phải xem xét thiết lập hệ thống công khai tài chính đối với nhóm công chức nhất định, trong đó có việc công chức phải báo cáo về sự liên quan của mình đối với tài khoản ở nước ngoài. Các biện pháp công khai tài chính phải bao gồm chế tài đối với hành vi không chấp hành; cho phép các cơ quan có thẩm quyền chia sẻ thông tin liên quan khi cần để điều tra, khiếu kiện và thu hồi tài sản có được do tham nhũng.

Điều 52 yêu cầu các quốc gia thành viên của Công ước phải bảo đảm cơ chế thực thi: (1) Yêu cầu xác minh danh tính khách hàng; (2) Xác định chủ sở hữu hưởng lợi từ các tài khoản có giá trị cao; (3) Tăng cường giám sát đối với các tài khoản được nắm giữ bởi những đối tượng liên quan đến thực hiện chức năng công; (4) Yêu cầu về giám sát tăng cường đối với cả tổ chức tài chính trong nước; (5) Yêu cầu về lưu giữ hồ sơ; (6) Ngăn chặn việc thành lập và thiết lập mối quan hệ trao đổi thông tin với các ngân hàng vỏ bọc; (7) Hệ thống công khai tài chính đối với công chức.

Thu hồi tài sản trực tiếp

Theo Điều 53 của Công ước, có 3 biện pháp thu hồi tài sản trực tiếp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, cho phép quốc gia thành viên khác khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án để xác định quyền hay quyền sở hữu đối với tài sản có được qua việc thực hiện các tội danh tham nhũng. Biện pháp này thường được áp dụng khi không thể tiến hành khởi tố vụ án hình sự (trường hợp bị cáo chết hoặc vắng mặt).

Với biện pháp thu hồi tài sản trực tiếp này, các quốc gia thành viên cần phải có một cơ chế pháp lý cho phép quốc gia thành viên khác được khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án của nước mình để thu hồi tài sản của họ hoặc phải có cơ chế cho phép quốc gia thành viên khác can thiệp hoặc tham gia, có mặt trong quá trình tố tụng trong nước mà mình đang tiến hành để xem xét vụ kiện yêu cầu bồi thường của quốc gia thành viên đó. Biện pháp này có điểm thuận lợi là cho phép quy định trách nhiệm pháp lý trên cơ sở các chuẩn mực dân sự mà không cần có bản án hình sự đối với người sở hữu hay chủ tài sản; tìm kiếm tài sản trong các trường hợp không có bản án hình sự khi có đủ chứng cứ đáp ứng các chuẩn mực dân sự cho thấy tài sản có được một cách phi pháp. Thực tiễn cho thấy phương án kiện dân sự thường dựa trên tài sản hoặc lỗi khi thực thi pháp luật. Một quốc gia có thể yêu cầu quyền sở hữu đối với tài sản đã bị lấy đi một cách bất hợp pháp hoặc yêu cầu bồi thường cho những thiệt hại bởi tham nhũng và những sai trái trong quản lý. Có thể sử dụng biện pháp này khi không thể tiến hành truy tố hình sự (trong trường hợp bị cáo chết hoặc vắng mặt). Việc thực hiện yêu cầu này có liên quan chặt chẽ đến quy định tại Khoản 1, Điều 43 của Công ước về việc yêu cầu các quốc gia thành viên xem xét hợp tác trong điều tra và tố tụng dân sự và hành chính liên quan đến tham nhũng (thông qua tương trợ tư pháp về dân sự).

Thứ hai, cho phép tòa án yêu cầu người phạm tội được quy định trong Công ước này phải bồi thường, đền bù cho quốc gia thành viên khác đã chịu thiệt hại từ hành vi phạm tội đó.

Quy định này yêu cầu quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp cần thiết cho phép tòa án của mình ra lệnh cho người phạm tội tham nhũng bồi thường, đền bù cho quốc gia thành viên khác đã chịu thiệt hại từ hành vi phạm tội đó. Các quốc gia khi thực thi có thể phải rà soát pháp luật hiện hành liên quan đến việc bồi thường thiệt hại cho nạn nhân hoặc các quyết định về bồi thường để xem pháp luật trong nước đã điều chỉnh tình huống này đầy đủ theo yêu cầu của Công ước chưa. Đồng thời, để thực hiện điều này, các quốc gia thành viên phải có cơ chế cho phép quốc gia thành viên khác được đứng trước tòa và thông báo về thiệt hại.

Thứ ba, cho phép tòa án hay các cơ quan chức năng khác ra quyết định tịch thu công nhận quốc gia thành viên có yêu cầu là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản có được do phạm tội tham nhũng. Để thực hiện quy định này, các quốc gia cần rà soát pháp luật trong nước về vấn đề tài sản có được do phạm tội để xem đã có cơ chế công nhận các tuyên bố như vậy của quốc gia khác hay chưa.

Như vậy, có thể thấy rõ, việc thực hiện các biện pháp trên của Công ước có thể yêu cầu phải ban hành hay sửa đổi pháp luật quy định về thủ tục tố tụng dân sự, hành chính hay các quy định về quyền tài phán đặt ra những yêu cầu bắt buộc về nghĩa vụ phải thực hiện biện pháp lập pháp hoặc biện pháp khác.

Quỳnh Vũ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang