Bắt nguồn từ Anh, đến nay ở nhiều nước nghị sỹ được hưởng đặc quyền không phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự về những lời phát biểu của mình ở nghị viện, thậm chí đối với cả những lời buộc tội, chỉ trích hoặc vu khống. Quyền này được Hiến pháp bảo vệ nhằm bảo đảm sự độc lập của Nghị viện đối với các cơ quan quyền lực khác, hướng đến lợi ích chung của đất nước.

Chủ tịch Đảng đối lập Tây Ban Nha Mariano Rajoy phát biểu trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế hôm 9.9.2009 |
| Nguồn: Reuters |
Vào đầu thế kỷ XVII xảy ra nhiều trường hợp vua Anh ra lệnh bắt giữ các nghị sỹ vì cho rằng nghị sỹ đó có những lời phát biểu có tính chất đe dọa Hoàng gia. Chính vì vậy, quyền tự do phát biểu ra đời cùng với Điều 9 của Đạo luật về các quyền năm 1688 ở Anh nhằm hạn chế sự độc đoán của nhà vua, bảo đảm sự độc lập của nghị viện đối với Hoàng gia. Theo Điều 9, nghị sỹ không bị kết tội hoặc bị kiện ở bất kỳ tòa án hoặc địa điểm nào bên ngoài Nghị viện vì các bài phát biểu và tranh luận ở Nghị viện. Ngày nay, khi Hoàng gia không còn là mối đe dọa nghị viện, đặc quyền tự do phát biểu nhằm bảo vệ nghị sỹ trước những rủi ro khác. Đạo luật về các quyền của Anh được coi là một phần trong hệ thống pháp luật, được áp dụng trực tiếp và quy định cụ thể ở các nước thuộc khối Thịnh vượng chung như Australia, New Zealand, Canada… Nhiều nước khác cũng học hỏi và quy định quyền tự do phát biểu cho nghị sỹ. Thậm chí ở một số nước, đặc quyền này của nghị sỹ còn được mở rộng, áp dụng đối với những người cung cấp thông tin được nghị sỹ nhắc đến trong bài phát biểu ở nghị trường.
Như một thẩm phán Tòa án Tối cao New Zealand phán quyết, mối quan tâm đặc biệt của quy định này là nhằm bảo đảm tự do ngôn luận, để không một nghị sỹ nào cảm thấy bị hạn chế vì lo ngại rằng, một ngày nào đó họ có thể chịu chế tài về những lời phát biểu hoặc hành động ở nghị viện. Như vậy, đặc quyền này nhằm tạo điều kiện cho nghị sỹ có thể tự do thể hiện tư tưởng của mình trong các cuộc tranh luận, thảo luận tại nghị viện.
Không những thế, người ta còn coi mục đích cao hơn của đặc quyền tự do phát biểu là nhằm bảo đảm hiệu quả và sự vận hành của nghị viện, loại bỏ những trở ngại đối với hoạt động của cơ quan lập pháp, tạo điều kiện cho cơ quan này đáp trả những thách thức đối với quyền lực và uy tín của mình, hỗ trợ nghị viện thực hiện chức năng lập pháp và giám sát chính phủ, nhất là giám sát. Hội đồng cơ mật, cơ quan xét xử cuối cùng ở Khối Thịnh vượng chung cho rằng, đặc quyền tự do phát biểu xuất phát từ nhu cầu tự thân của mọi cơ quan lập pháp; thậm chí để phục vụ lợi ích chung; nếu thiếu nó, những tư tưởng mới có thể bị kìm hãm, những điều sai trái sẽ không được sửa chữa, cơ quan lập pháp biến thành một dạng câu lạc bộ thảo luận lịch thiệp nhưng vô hại. Còn trong một vụ kiện năm 1997 liên quan đến quyền tự do phát biểu của nghị sỹ, Chánh án của Tòa án Tối cao Úc lúc đó nhấn mạnh, đặc quyền này tồn tại không phải vì quyền lợi của nghị sỹ, mà để bảo vệ lợi ích công cộng. Đây cũng được coi là quyền của cử tri rằng những người do cử tri bầu ra không phải chịu ảnh hưởng hoặc áp lực không chính đáng nào, để cử tri có thể mang những vấn đề của cuộc sống đến với nghị sỹ và tin chắc nghị sỹ sẽ lên tiếng về những vấn đề đó. Cũng chính vì thế, khi thực hiện quyền này, mỗi nghị sỹ phải vì mục tiêu lợi ích công cộng, quyền lợi của cử tri, lợi ích quốc gia, chứ không phải để mưu cầu lợi riêng.