DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 18:32 | 11/12/2019 (GMT+7)
.
Trò chuyện đầu tuần

Chậm thay đổi tư duy và hành động

08:11 | 27/05/2019
Trước tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm không những trong năm 2018, mà xảy ra từ khi Luật Đầu tư công có hiệu lực thi hành đến nay, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế NGUYỄN ĐỨC KIÊN cho rằng, một phần do chậm thay đổi trong cả tư duy và hành động. Các cơ quan, đơn vị nhìn chung đều đang thực hiện nghiêm quy trình, thủ tục pháp lý để đầu tư, nên cũng không thể nói do yếu tố này mà chậm giải ngân vốn.

Nhìn ở góc độ chậm so với kế hoạch đề ra sẽ thấy khác

- Giải ngân vốn đầu tư công chậm là một trong những hạn chế được ĐBQH tập trung phân tích trong phiên thảo luận ở tổ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước đầu Kỳ họp thứ Bảy này. Đâu là nguyên nhân của tình trạng này, thưa ông?


Tùy theo từng khoản chi, có những khoản chi được dự toán, hay như khoản chi sử dụng trái phiếu Chính phủ thì thường được phát hành trước 3 tháng thời điểm khởi công thực hiện. Nếu không phát hành trái phiếu Chính phủ trước sẽ khó kịp thời cấp kinh phí thực hiện dự án, vì thường có độ trễ sau phát hành, phải đợi Kho bạc Nhà nước phân chia đến kho bạc địa phương, rồi duyệt hồ sơ. Ít ai dám điều hành theo kiểu “anh có phiếu giá công trình lên rồi thì tôi mới phát hành trái phiếu để thanh toán cho”. 

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế NGUYỄN ĐỨC KIÊN

- Vốn đầu tư công giải ngân chậm trong thời gian qua một phần do sự chậm thay đổi trong cả tư duy và hành động. Luật Đầu tư công năm 2014 đã có hiệu lực thi hành, song các cơ quan, đơn vị vẫn thực hiện theo thông lệ đầu tư trước đây, nên phải làm lại nhiều thủ tục, mất nhiều thời gian hơn.

Nhưng cũng phải làm rõ giải ngân chậm do các quy trình, thủ tục đầu tư công được thực hiện chậm hay chỉ chậm so với kế hoạch được Chính phủ đặt ra? Qua nghe báo cáo của Chính phủ, tham gia Đoàn làm việc của Ủy ban Kinh tế với một số địa phương, tôi nhận thấy, nhìn chung các đơn vị không chậm trễ trong thực hiện quy trình, thủ tục đầu tư công, ngược lại đang tuân thủ rất nghiêm túc quy trình đề ra. Khoảng thời gian thực hiện quy trình, thủ tục pháp lý để đầu tư tương đối dài, song hoàn toàn có thể xác định trước, vì đã được các luật chuyên ngành quy định cụ thể và rõ ràng.

- Vậy phải chăng vấn đề ở đây là cần xem xét điều chỉnh quy trình, thủ tục triển khai đầu tư công để giảm bớt thời gian, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn, thưa ông?

- Luật Đầu tư công năm 2014 được xây dựng khi áp lực nợ công của nước ta quá lớn. Đầu tư không theo kế hoạch nên mất cân đối với khả năng của nền tài chính đất nước. Ở thời điểm đó, đầu tư công rất cần được “phanh” lại để kịp thời ổn định. Luật Đầu tư công năm 2014 đã hoàn thành nhiệm vụ này. Trong thời gian qua, số lượng dự án khởi công mới giảm mạnh. Việc bố trí vốn đầu tư được tập trung hơn trước, đã góp phần đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa công trình, dự án vào sử dụng phát huy hiệu quả. Một số lượng vốn đáng kể cũng được dành để thanh toán vốn ứng trước và xử lý dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản trong giai đoạn 2016 - 2020. Đồng thời, hiệu quả đầu tư được nâng cao, thể hiện qua chỉ số ICOR của nước ta có xu hướng giảm dần qua các năm qua.

Nhưng nói vậy không có nghĩa Luật Đầu tư công hiện hành không phải sửa đổi. Với sự thay đổi của đầu tư công nước ta hiện nay có thể tính toán sửa đổi một số nội dung để vừa thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn, vừa bảo đảm trần nợ công, giữ an toàn tài chính quốc gia. Ví dụ như, cần có quy định về kinh phí thực hiện chuẩn bị, có cho phép nhà đầu tư vay trước để thực hiện các công tác liên quan, và nếu QH không phê duyệt thì lấy từ nguồn nào để thanh toán cho hoạt động chuẩn bị? Vấn đề này cần được nghiên cứu bổ sung vào dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi) sẽ trình QH trong tuần làm việc thứ hai này để giúp các bộ, ngành, địa phương tránh bị lúng túng như hiện nay.

Có cả tác động tốt và xấu

- Luật Đầu tư công năm 2014 quy định, nếu trong năm trước không giải ngân hết sẽ được chuyển nguồn sang 31.12 năm sau, tương tự nếu không giải ngân hết trong kế hoạch đầu tư công trung hạn trước sẽ chuyển nguồn đến hết 31.12 của năm cuối cùng kế hoạch giai đoạn sau. Quy định này được cho là đã làm nảy sinh tâm lý “cơm không ăn, gạo còn đó”, nên có lẽ cần dứt khoát cắt nguồn vốn chưa giải ngân hết, thưa ông?

- Việc cắt phần vốn chưa giải ngân hết trong năm có cả tác động tốt và xấu. Nếu không cho phép chuyển nguồn phần vốn chưa giải ngân được trong năm tài chính sẽ giúp dành được nguồn lực đầu tư cho các dự án cần thiết khác. Tuy nhiên, thực hiện theo cách này cũng có thể làm xảy ra tình trạng “đua nhau” giải ngân khối lượng. Vì giải ngân theo khối lượng nên rất dễ dẫn đến tình trạng các đơn vị thông đồng, thỏa thuận với nhau để khai khống khối lượng. Vì khai khống khối lượng nên khi kiểm tra sẽ “xuê xoa” với nhau.

Nhưng chúng ta phải nhìn ở xuất phát điểm: Do có kế hoạch đầu tư công trung hạn nên khoản tiền phân bổ cho dự án sẽ được duy trì ổn định trong 5 năm. Trong khoản kinh phí đã được phê duyệt này, nếu lãnh đạo cơ quan, địa phương có khả năng quản lý tốt, thì công trình, dự án sớm được đưa vào vận hành. Ở địa phương, khi công trình sớm đưa vào vận hành thì đảng bộ, chính quyền và người dân sẽ cảm nhận được sự năng động, tích cực đóng góp của cán bộ lãnh đạo cho tỉnh, huyện, và được đánh giá cao khi tiến hành bầu cử.  

- Vậy theo ông, có nên cho phép chuyển nguồn vốn đầu tư công chưa giải ngân hết sang năm tài chính sau hoặc sang giai đoạn đầu tư sau không?

- Việc có cho phép chuyển nguồn vốn chưa giải ngân hết hay không tùy thuộc vào triển khai thực hiện quy trình đầu tư có đúng không. Luật Đầu tư công hiện hành quy định lùi thời gian giải ngân vốn đầu tư công phải hợp lý, không cho phép lùi lại để chọn nhà đầu tư “cánh hẩu” của cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện. Nếu đơn vị đợi nhà đầu tư “cánh hẩu” của mình sẵn sàng tham gia rồi mới xây dựng hồ sơ mời thầu phù hợp với “cánh hẩu” chắc chắn sẽ không được bố trí tiếp số vốn chưa giải ngân hết này. 

- Việc giải ngân vốn ODA hiện nay được thực hiện theo tiến độ của dự án, trong khi nếu sử dụng ngân sách nhà nước phải đợi khả năng cấp vốn. Sự khác nhau về cách thức giải ngân của hai nguồn vốn này có nên tiếp tục duy trì trong thời gian tới không, thưa ông?

- Sự khác nhau về cách thức giữa giải ngân vốn ODA và ngân sách nhà nước đang được xử lý hài hòa. Vốn ODA được giải ngân theo hiệp định ký kết. Vốn ngân sách nhà nước giải ngân theo khả năng bố trí. Và sự vênh nhau giữa vốn đối ứng trong nước và vốn ODA được khắc phục bằng phần 10% vốn dự phòng cho dự án.

 Hơn nữa, khó có thể dự đoán được những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, công trình, nhất là đối với diễn biến của thiên tai, hay ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong trường hợp này nếu phát hành trái phiếu trước sẽ khiến vốn bị ứng đọng, mà vẫn phải trả lãi suất huy động, làm tăng chi phí thực hiện dự án.

Vấn đề trong giải ngân vốn ODA hiện nay là chưa dự báo kịp thời tiến độ thực hiện. Hiện nay, có tình trạng một số bộ, ngành, địa phương giải ngân vốn ODA xong rồi mới báo cáo Chính phủ số vốn đối ứng trong nước còn thiếu. Tình trạng này sẽ khó lặp lại nếu ngay từ tháng 6 hàng năm, các bộ, ngành, địa phương dự báo chính xác tốc độ giải ngân. Khi đó, chắc chắn Chính phủ sẽ xác định phần vốn đối ứng trong nước phù hợp và trình ra QH quyết định. Vướng mắc về giải ngân vốn đối ứng trong nước như vậy sẽ được khắc phục hoàn toàn.

- Xin cảm ơn ông!

Thanh Hải thực hiện
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang