DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 17:21 | 12/12/2018 (GMT+7)
.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học

Không bó buộc tính tự chủ

08:30 | 13/06/2018
Đây là ý kiến của một số ĐBQH khi thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học trong phiên họp chiều qua. Theo đó, tự chủ đại học cần hướng tới 3 mục tiêu: Tự chủ chuyên môn; tự chủ bộ máy, nhân sự; tự chủ tài chính và tài sản. Điều kiện thực hiện tự chủ phải được xác lập và thực hiện thông qua Nhà nước với nguyên tắc không bó buộc tính tự chủ, không lãng phí nguồn lực của Nhà nước, của xã hội.

Tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình

Tự chủ đại học là trọng tâm trong sửa đổi Luật Giáo dục đại học lần này. Bước tiến lớn trong dự thảo Luật, theo nhận định của ĐBQH Nguyễn Thị Mai Hoa (Đồng Tháp), là đã thay đổi nhận thức về tự chủ đại học, nhấn mạnh trách nhiệm giải trình của nhà trường, thể hiện rõ vai trò của Hội đồng trường như một thiết chế nhằm đổi mới quản trị nhà trường. Tiếc rằng, quy định tại Khoản 6, Điều 4 và Điều 32 dự thảo Luật chưa làm rõ khái niệm về tự chủ, điều kiện tự chủ, nội dung, phương thức thực hiện trách nhiệm giải trình. Rõ ràng, tự chủ không có mục đích tự thân mà mục đích cuối cùng là để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Việc trao quyền tự chủ là cả quá trình, trong đó chỉ khi nào nhà trường bảo đảm các điều kiện nhất định mới được tự chủ. Nhấn mạnh điều này, ĐB Nguyễn Thị Mai Hoa đề nghị, Ban soạn thảo phải thể hiện lại khái niệm tự chủ, làm rõ cơ chế tự chủ, điều kiện, phương thức thực hiện giải trình.

Nhìn nhận vấn đề tự chủ cần hướng tới 3 mục tiêu (chuyên môn; bộ máy, nhân sự; tài chính và tài sản), ĐBQH Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ) cho rằng, điều kiện tự chủ phải được xác lập và thực hiện thông qua Nhà nước theo nguyên tắc không bó buộc tính tự chủ, nhất là ở các cơ sở giáo dục tư thục và bảo đảm phù hợp, không lãng phí các nguồn lực của xã hội. Ví dụ, cơ sở tư thục có vốn đầu tư nước ngoài được tạo điều kiện tự chủ nhưng phải công khai, minh bạch về thông tin, thứ bậc đánh giá, kết quả kiểm định chất lượng của các tổ chức độc lập, có uy tín, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp… để học sinh có nhu cầu dự tuyển và theo học cân nhắc, lựa chọn.

Hay, tự chủ ở các cơ sở giáo dục đại học công lập cần phân định rõ điều kiện và mức độ tự chủ cho phù hợp. Chẳng hạn, các cơ sở giáo dục hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí ngân sách với cơ sở giáo dục được Nhà nước bảo đảm một phần kinh phí hoạt động phải có mức độ tự chủ khác nhau về bộ máy, nhân sự, chuyên môn. Điều này đồng nghĩa, cơ quan soạn thảo cần rà soát các quy định tại Điều 66, 67 về tài chính, tài sản ở các cơ sở giáo dục đại học, vì các quy định này chưa phù hợp với pháp luật hiện hành.


ĐBQH Hoàng Văn Cường (Hà Nội) phát biểu tại hội trường
Ảnh: Quang Khánh

Thiếu thực quyền

 “Dự thảo Luật đã giao phần lớn công việc quản trị cho các trường đại học tự thực hiện. Điều này cho phép các trường thực sự được quyền tự chủ, không chỉ về tài chính mà cả về đào tạo, khoa học, tổ chức bộ máy và nhân sự. Các trường phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước. Đặc biệt, như chúng ta biết, tài sản giá trị lớn nhất của nhà trường không phải là vật chất, mà quan trọng hơn là tài sản vô hình. Đó là danh tiếng, uy tín.

Chính vì vậy, quyền về sở hữu tài sản của các trường đại học thuộc về quyền của cả xã hội, trong đó có người học, cựu học viên và người sử dụng lao động. Vì vậy, dự thảo Luật cần quy định rất rõ trách nhiệm giải trình của các trường đại học đối với người học, cựu học viên và đối với những đơn vị là người sử dụng lao động về chuẩn đầu ra, các sản phẩm đào tạo, coi đó là cơ sở, giúp xã hội thực hiện vai trò giám sát đối với các trường đại học”.

ĐBQH Hoàng Văn Cường (Hà Nội)

Một thiết chế quan trọng nữa bảo đảm quyền tự chủ đại học là Hội đồng trường. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để thiết chế này thực quyền đi kèm với thực lực?

Theo ĐBQH Nguyễn Văn Hiển (Lâm Đồng), quy định về Hội đồng trường trong dự thảo Luật còn thiếu tính khả thi. Đơn cử, tại Điều 16, dự thảo Luật quy định, các thành viên của Hội đồng trường gồm có Bí thư cấp ủy, Chủ tịch Công đoàn, Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội sinh viên cấp trường, Hiệu trưởng, một Hiệu phó do Hiệu trưởng cử. Quy định này cho thấy quyền lực tập trung quá lớn vào Hiệu trưởng: Hiệu trưởng vừa là thành viên trong Hội đồng trường, và tới đây, trong xu hướng tinh gọn bộ máy, Hiệu trưởng có thể kiêm Bí thư cấp ủy, Hiệu phó cũng do Hiệu trưởng cử? Hơn nữa, mục tiêu thành lập Hội đồng trường là tổ chức quản trị, đại diện cho quyền của chủ sở hữu Nhà nước, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động quản lý, điều hành của Hiệu trưởng và các thành viên khác trong bộ máy quản lý của nhà trường.

Với thành phần như trên, ĐB Nguyễn Văn Hiển cho rằng, nếu Hiệu trưởng và bộ máy quản lý lạm quyền, vi phạm pháp luật thì Hội đồng trường khó có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ do thiếu thực quyền và dễ bị chi phối bởi quyền lực cũng như sự ảnh hưởng từ Hiệu trưởng.

Và vấn đề ở đây còn ở chỗ: Hội đồng trường đã có năng lực quản trị tương xứng với quyền được giao hay chưa? Và liệu rằng có hình thành “lợi ích nhóm” trong Hội đồng trường hay không?

Những phân tích của ĐBQH không phải không có lý. Vì rằng, giao quyền tự chủ phải có cơ chế để kiểm soát quyền làm chủ đó. Đáng lưu ý hơn, nhiều đại biểu cũng bày tỏ lo ngại khi dự thảo Luật sửa đổi tới 33 điều, nhưng lại có tới 23 điều giao Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Việc giao quá nhiều nội dung cho Chính phủ hướng dẫn cho thấy, việc nghiên cứu, đánh giá chính sách còn chưa thấu đáo, chưa định hình rõ nên chưa quy định được cụ thể.

Với những điểm chưa hợp lý đó, nhiều ý kiến cho rằng, cơ quan soạn thảo cần rà soát các quy định của dự thảo Luật, nghiên cứu một cách thận trọng, tránh nôn nóng, nhất là khi nhiều nội dung còn có ý kiến khác nhau.

Ý Nhi
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
17:59 22/01/2017
Khẳng định quyền lực phải được kiểm soát bằng quyền lực; cái gốc để chấn chỉnh kỷ cương bộ máy vẫn là đạo đức cách mạng của người lãnh đạo, các khách mời tham gia trao đổi về chủ đề “Chấn chỉnh kỷ cương bộ máy nhà nước - Vai trò của cơ quan dân cử” cho rằng: Một hệ thống dân cử mạnh sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng, thúc đẩy hệ thống chính quyền các cấp kỷ cương, hành động. Muốn vậy, mỗi đại biểu phải trở thành một “ngọn đuốc” rọi sáng mọi ngóc ngách của cuộc sống.
Quay trở lại đầu trang