DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 22:58 | 19/06/2018 (GMT+7)
.
Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học

Bài 1: Ba vấn đề cần đưa vào Luật

07:49 | 07/01/2018
LTS: Theo Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2018, dự án Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học dự kiến sẽ trình QH cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Năm và thông qua tại Kỳ họp thứ Sáu.
Sau khi rà soát, Bộ Giáo dục - Đào tạo đề xuất sửa đổi, bổ sung 38/73 điều của Luật hiện hành. Các chuyên gia cho rằng những đề xuất sửa đổi này là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ để giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển, hội nhập của đất nước. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu loạt bài của GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân (*) xung quanh dự thảo Luật này.

Mục đích sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học (GDĐH) lần này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, hoàn thiện khung pháp lý về GDĐH, giải quyết những vấn đề mới phát sinh, nổi cộm của GDĐH hiện tại và đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH; phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển GDĐH, phục vụ yêu cầu phát triển KT - XH, chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Vấn đề ở đây là cần nhìn nhận về những vấn đề mới phát sinh, nổi cộm, yêu cầu phát triển KT - XH, chất lượng nguồn nhân lực và các nguyên nhân sâu sát đến mức độ nào để Luật GDĐH sau khi được sửa đổi, bổ sung thực sự hữu ích.


Nguồn: bachkhoa-aptech.com

Giới hạn đến đâu để không mâu thuẫn?

Trước hết, về quan điểm chỉ đạo sửa đổi, bổ sung Luật GDĐH, Ban soạn thảo đề ra 5 vấn đề. Một là tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, Nhà nước. Hai là, sửa đổi, bổ sung Luật cần bảo đảm tính toàn diệncó trọng tâm trọng điểm (thực hiện tự chủ đại học và nâng cao chất lượng GDĐH), không dự thảo để thay thế Luật GDĐH hiện hành. Ba là, bảo đảm tính thiết thực, khả thi, (…) phải tạo được môi trường pháp lý vững chắc, thông thoáng và hấp dẫn để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có tư duy đổi mới, năng lực sáng tạo. Bốn là, bảo đảm tính thực tiễn. Năm là, bảo đảm tính phù hợp: phải phù hợp tương đối với các luật khác trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Theo tôi, quan điểm thứ 2 tự nó nói lên giới hạn của việc sửa đổi, bổ sung lần này. Vấn đề là giới hạn đến đâu để không mâu thuẫn với mục đích sửa đổi, bổ sung Luật? Quan điểm thứ 3 là một điểm mới trong sửa đổi, bổ sung Luật lần này mà tôi đồng tình và đã phát biểu là cần có (trong lần hội thảo tháng 7.2017 tại Hà Nội). Rất tiếc là các sửa đổi, bổ sung lần 3 chưa thể hiện quan điểm này.

Và một vấn đề nữa, thế nào là “phù hợp tương đối”? Hoặc sửa đổi, bổ sung có “cơ sở không thể bác bỏ” thì sửa đổi các luật có liên quan, hoặc vì một lý do nào đó, không được chấp nhận (không sửa các luật khác có liên quan) sẽ phải gác lại? Trách nhiệm trước xã hội và các thế hệ sau này thuộc về ai? Đây là nội dung phải được làm rõ.

Còn hẹp và thiếu tầm nhìn

Hiện có khoảng 200 nghìn sinh viên tốt nghiệp ĐH không tìm được việc làm. Nguyên nhân vì sao? Làm gì để sinh viên tốt nghiệp, sản phẩm đầu ra của GDĐH không rơi vào tình trạng này? Đây là một vấn đề nổi cộm của GDĐH hiện tại và là một yêu cầu đổi mới GDĐH trong thời gian tới, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển GDĐH.

Theo Báo cáo tóm tắt quốc gia Điều tra chuyển tiếp từ trường học đến việc làm (ILO, Work4Youth, 1.2017), “gần 2/3 số sinh viên trong năm 2015 cho biết thích làm việc trong khu vực nhà nước, chủ yếu là do công việc ổn định”. Ý thích này rất đáng quan tâm. Nguyên nhân vì sao? Nhìn rộng hơn, câu hỏi đặt ra là: Nền GDĐH của chúng ta đào tạo ra những người làm công hay người làm chủ?


Sau bao nhiêu Nghị quyết Trung ương, từ Khóa VIII đến Khóa XI, rồi Khóa XII hiện nay, chỗ đứng của GDĐH và đào tạo của Việt Nam ở đâu trong ASEAN?

Bảng số liệu và biểu đồ trên đây phần nào đã thay cho trả lời.

Đây là vấn đề thứ ba mà GDĐH và đào tạo Việt Nam phải có những sửa đổi, bổ sung cần thiết, khi mà ASEAN đã là một Cộng đồng (từ 31.12.2015), trong một thế giới mà chúng ta muốn chủ động hội nhập đóng góp ngày càng tích cực.

Nhận xét khái quát có thể thấy, dự thảo lần thứ 3 này đã tiếp thu nhiều ý kiến từ hội thảo tháng 7.2017 tại Hà Nội. Tuy nhiên, cần hoàn thiện hơn nữa, vì nhìn chung nội dung sửa đổi, bổ sung còn hẹp, không đáp ứng mục đích đề ra. Cụ thể, dự thảo chưa thấy hướng đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển đất nước đối với nền GDĐH. Còn thiếu tầm nhìn ra khu vực và thế giới. Chưa thấy trách nhiệm đóng góp của GDĐH trong vấn đề đào tạo - giữ - thu hút tài năng trong bối cảnh mới. Sửa đổi, bổ sung chỉ mới liên quan đến Bộ GD - ĐT với các cơ sở GDĐH. Đối tượng sinh viên, sản phẩm đầu ra của GDĐH, những con người mà chúng ta mong muốn có kiến thức và kỹ năng cơ bản, năng động, sáng tạo với tinh thần làm chủ, trong bối cảnh thế giới ngày nay, hầu như không được đề cập.
________________

*Gs. TSKH. Nguyễn Ngọc Trân - nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh; nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước; ĐBQH Khóa IX, X, XI; nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại.

 Cần chiến lược về hợp tác quốc tế

Trong Luật GDĐH hiện hành, “hoạt động hợp tác quốc tế” có 6 điều, từ 43 đến 48. Lần này dự thảo sửa đổi, bổ sung 3 điều (Điều 44 - Thành lập văn phòng đại diện; Điều 45 - liên kết đào tạo với nước ngoài; và Điều 48 - trách nhiệm của Nhà nước về hợp tác quốc tế). Trên nền của Luật hiện hành, với chừng ấy sửa đổi, bổ sung, hoạt động hợp tác quốc tế của GDĐH Việt Nam là quá sơ lược, tầm nhìn rất hạn hẹp.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ASEAN đã là một cộng đồng kể từ 31.12.2015, sự cạnh tranh về tài năng gay gắt, sự di chuyển của nguồn nhân lực được các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới bắt buộc phải được thực hiện, Nhà nước cần có một chiến lược về hợp tác quốc tế trong GDĐH tương thích. Một số nước còn dùng cụm từ “chiến lược quốc tế hóa GDĐH”.

Xin giới thiệu hai hoạt động quốc tế hóa GDĐH để tham khảo.

Quá trình Bologna. Đây là một nỗ lực của các nước châu Âu từ năm 1999 nhằm làm cho các hệ thống ĐH ở châu lục này, so sánh với nhau được (comparable), tương thích (compatible), và gắn kết với nhau (coherent) hơn. Đánh dấu 10 năm Quá trình Bologna, Vùng Giáo dục Đại học Châu Âu (European Higher Education Area, EHEA) đã được thành lập tại Hội nghị các Bộ trưởng tại Budapest - Vienna tháng 3.2010 cùng với Chiến lược di động (mobility) đến năm 2020 cho EHEA.

CHLB Đức là quốc gia thành viên của EHEA. Bộ Giáo dục và Nghiên cứu khoa học (BMBF) đã xây dựng Chiến lược Quốc tế hóa và 9 nỗ lực cần triển khai để sự trao đổi sinh viên, nghiên cứu viên khoa học có lợi nhất cho CHLB Đức. Đó là: Quốc tế hóa chiến lược của một trường ĐH; Các điều kiện pháp lý để quốc tế hóa; Thiết lập văn hóa tiếp đón; Thiết lập các campus quốc tế; Tăng số lượng sinh viên ra nước ngoài; Cải thiện sự hấp dẫn của CHLB Đức - nước tiếp đón; Thu hút các nhà nghiên cứu xuất sắc từ nước ngoài; Phát triển hợp tác quốc tế trong nghiên cứu; Phát triển một nền GDĐH xuyên quốc gia.

Vấn đề quốc tế hóa giáo dục đại học sớm muộn cũng sẽ được các nước ASEAN xúc tiến. Đưa quy định xây dựng Chiến lược hợp tác quốc tế vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH lần này và chuẩn bị ngay từ bây giờ việc triển khai không phải là sớm. 

Gs.TsKH. Nguyễn Ngọc Trân
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
17:59 22/01/2017
Khẳng định quyền lực phải được kiểm soát bằng quyền lực; cái gốc để chấn chỉnh kỷ cương bộ máy vẫn là đạo đức cách mạng của người lãnh đạo, các khách mời tham gia trao đổi về chủ đề “Chấn chỉnh kỷ cương bộ máy nhà nước - Vai trò của cơ quan dân cử” cho rằng: Một hệ thống dân cử mạnh sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng, thúc đẩy hệ thống chính quyền các cấp kỷ cương, hành động. Muốn vậy, mỗi đại biểu phải trở thành một “ngọn đuốc” rọi sáng mọi ngóc ngách của cuộc sống.
Quay trở lại đầu trang