DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 16:39 | 15/12/2017 (GMT+7)
.
Chính sách, pháp luật về giảm nghèo:

Không bình quân, cào bằng

08:10 | 17/07/2016
Chính sách, pháp luật về giảm nghèo hiện nay, trong đó có giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số, còn chồng chéo, mang tính bình quân, cào bằng. Thực tế này đòi hỏi phải tính toán chính sách phù hợp với đặc thù từng vùng miền, từng đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là ý kiến của Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc DANH ÚT tại Hội thảo cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chính sách giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020.

Kết quả chưa tương xứng

- Ông đánh giá như thế nào về việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua?

- Miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn có ý nghĩa quan trọng về kinh tế - xã hội, đặc biệt là an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái. Những năm qua, nhất là từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội đối với miền núi, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giảm bình quân khoảng 5 - 6%, trong khi cả nước chỉ giảm được từ 1,5 - 2%. Đây là kết quả rất đáng mừng. Nhiều chủ trương, chính sách đưa vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa phát triển, tạo nên thay đổi về đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, điển hình phải kể đến là chương trình xây dựng nông thôn mới…

Tuy nhiên, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 47% tỷ lệ hộ nghèo của cả nước. Mới đây nhất, theo điều tra hộ nghèo đa chiều, cả nước có khoảng 2,3 triệu hộ nghèo, riêng hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 23%, cá biệt có tỉnh miền núi, tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm tới 40% dân số. Cơ sở hạ tầng ở vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn yếu kém. Các nhu cầu thiết yếu như nước sinh hoạt, điện thắp sáng, nhà ở, trường học, trạm y tế… cũng chưa đáp ứng được. Thu nhập bình quân đầu người của đồng bào dân tộc thiểu số rất thấp, bình quân chỉ 1 triệu đồng/1 hộ/1 tháng…

- QH đã ban hành Nghị quyết số 76/2014/QH12 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020… Nhưng có thể thấy là kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với nỗ lực và quyết tâm của chúng ta, thưa ông?

- Kết quả chưa tương xứng có nguyên nhân quan trọng là do chính sách, pháp luật về giảm nghèo còn phân tán, manh mún, một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn. Thời gian qua, QH, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của QH đã thực hiện nhiều chương trình giám sát về giảm nghèo, như tổ chức giám sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005 - 2012; Hội đồng Dân tộc giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết 30a… Kết quả giám sát cho thấy, nhiều chính sách, pháp luật chồng chéo, mang tính chất bình quân, cào bằng. Điều này đặt ra cho QH yêu cầu phải thống nhất, hợp nhất các chính sách, pháp luật về giảm nghèo (trong đó có chính sách, pháp luật về giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số); cân nhắc, tính toán chính sách phù hợp với đặc thù từng vùng miền, từng đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số. Mặt khác, chúng ta cũng cần thực hiện xã hội hóa, kêu gọi sự hỗ trợ của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước tham gia thực hiện các chính sách giảm nghèo với tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều, tránh tình trạng đặt quá nặng lên ngân sách nhà nước. Như vậy mới tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội giúp các hộ nghèo nói chung, đồng bào thiểu số nói riêng vươn lên thoát nghèo.

Thống nhất chính sách pháp luật giảm nghèo

- Hiến pháp năm 2013 có một số quy định mới về chính sách dân tộc, trong đó có chính sách giảm nghèo. Tuy nhiên, các quy định này đến nay vẫn chưa được thể chế hóa, thưa ông?

- Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng 11 điều quy định về vấn đề dân tộc. Điều 5, Hiến pháp nêu rõ: Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện, tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Khoản 1, Điều 58 khẳng định: Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Điều 61 nhấn mạnh: Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề. Đặc biệt, Điều 70, Hiến pháp quy định: QH quyết định chính sách dân tộc. Vì vậy, việc cần làm tới đây của QH Khóa XIV là tiếp tục quan tâm, giám sát việc triển khai thực hiện chính sách dân tộc; sớm xem xét ban hành Luật Dân tộc, nhằm khắc phục những hạn chế vướng mắc trong công tác dân tộc và chính sách giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm chính sách, pháp luật về giảm nghèo được thống nhất, cụ thể, tránh tản mạn, lãng phí.

- Xin cảm ơn ông!

 Chính sách hỗ trợ giảm nghèo không đồng bộ nên chưa khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững. Thực tế, các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo mới chỉ tính đến hỗ trợ ngắn hạn mà chưa tính đến những hỗ trợ dài hạn để bảo đảm cuộc sống cho người dân (các hoạt động khuyến nông, thông tin thị trường còn yếu…). Kết quả là, một số hộ sau khi được hỗ trợ thì lại sang nhượng, cầm cố, thế chấp đất sản xuất, thậm chí cả đất ở, nhà ở, không có khả năng chuộc lại và trở thành các hộ không có đất ở, đất sản xuất.

LƯU QUANG TUẤN (Viện Khoa học lao động, Bộ LĐ, TB - XH)

Nhìn chung các chính sách liên giảm nghèo hiện nay đã được thiết kế nhằm vào các khía cạnh của đói nghèo là: tạo cơ hội nâng cao thu nhập; tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế; hỗ trợ an sinh xã hội và tăng cường sự tham gia của người nghèo. Ai cũng hiểu nguồn lực của Chính phủ là có hạn. Nhưng vùng, người dân tộc thiểu số nói chung hay một số vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn và người nghèo dân tộc thiểu số nói riêng thì thiếu đủ thứ nên nếu chính sách không có mục tiêu rõ ràng và phù hợp, nguồn lực thực hiện không đủ mạnh, quá trình thực thi chính sách không đồng bộ thì vừa lãng phí nguồn lực lại không mang lại hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, trong giai đoạn tới, vấn đề cấp bách đặt ra là cần hoàn thiện về nội dung chính sách, cần điều chỉnh hệ thống tổ chức, cơ chế thực hiện chính sách phù hợp hơn với điều kiện thực tế của vùng và người dân tộc thiểu số để nâng cao hiệu quả của chính sách, phát huy nội lực, ý thức tự lực tự cường của người dân tộc thiểu số.

BẾ THỊ HỒNG VÂN (Vụ Chính sách Dân tộc, Ủy ban Dân tộc)

Hoàng Ngọc thực hiện
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
17:59 22/01/2017
Khẳng định quyền lực phải được kiểm soát bằng quyền lực; cái gốc để chấn chỉnh kỷ cương bộ máy vẫn là đạo đức cách mạng của người lãnh đạo, các khách mời tham gia trao đổi về chủ đề “Chấn chỉnh kỷ cương bộ máy nhà nước - Vai trò của cơ quan dân cử” cho rằng: Một hệ thống dân cử mạnh sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng, thúc đẩy hệ thống chính quyền các cấp kỷ cương, hành động. Muốn vậy, mỗi đại biểu phải trở thành một “ngọn đuốc” rọi sáng mọi ngóc ngách của cuộc sống.
Quay trở lại đầu trang