DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 21:30 | 20/05/2013 (GMT+7)
.

Xác định đúng đối tượng thụ hưởng chính sách sẽ không lúng túng khi thực hiện

09:01 | 07/08/2012
Đoàn giám sát của UBTVQH về việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số vừa làm việc với Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành Trung ương trước khi đi thực tế tại các địa phương. Kết quả cho thấy, sự lúng túng trong việc triển khai thực hiện chính sách này chủ yếu là do các cơ quan thực hiện chưa hiểu đúng đối tượng được thụ hưởng khi xây dựng chính sách.

Đất ở, đất sản xuất là điều kiện cơ bản, tư liệu sản xuất quan trọng của đồng bào dân tộc, nhất là với đồng bào nghèo, đời sống khó khăn. Thực tế cũng cho thấy, tình trạng thiếu đất sản xuất là một trong những nguyên nhân chính gây đói nghèo tại các vùng có đồng bào dân tộc sinh sống. Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương lớn về việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn 2002 – 2011, Thủ tướng đã ban hành 11 quyết định hỗ trợ trực tiếp đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có một số quyết định riêng cho từng khu vực. Theo báo cáo của các bộ, ngành tại cuộc làm việc với Đoàn giám sát của UBTVQH thì các bộ, ngành, địa phương cũng kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các quyết định của Thủ tướng. Các chính sách này cũng nhận được sự đồng tình, ủng hộ và quyết tâm thực hiện của người dân. Nhờ đó, việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số đã đạt được nhiều hiệu quả. Đặc biệt, nhiều hộ nghèo trước đây, nay đã từng bước ổn định cuộc sống và có điều kiện kinh tế khá hơn. Không chỉ ban hành chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, những năm gần đây, Nhà nước cũng đã thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề tại các địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số nhằm tạo sinh kế bền vững hơn cho đồng bào.

Tuy nhiên, điều khiến nhiều thành viên Đoàn giám sát của UBTVQH lo lắng là số hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất hiện vẫn còn khá lớn, theo báo cáo của Chính phủ là 323.682 hộ. Còn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khi hết thời hạn triển khai Chương trình 134 về hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt và nhà ở (năm 2008), thì mới cấp được đất ở cho 47,8% hộ đồng bào dân tộc thiểu số, 44,9% đất sản xuất và 47,6% tổng số vốn hỗ trợ. Trước kết quả này, Thủ tướng đã quyết định kéo dài thời gian thực hiện chính sách nhưng đến cuối năm 2011, mức vốn được giải ngân, tỷ lệ đất ở, đất sản xuất được cấp cho đồng bào vẫn ở mức khiêm tốn.

Chính sách liên quan đến đất ở, đất sản xuất, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được ban hành khá nhiều. Tại sao số hộ đồng bào dân tộc thiểu số chưa được cấp đất ở, đất sản xuất vẫn còn lớn?

Trả lời câu hỏi này của Đoàn giám sát, Ủy ban Dân tộc lý giải: do các địa phương chủ yếu thực hiện các nội dung dễ, định mức cao, hoặc điều kiện thực hiện thuận lợi. Những nội dung khó, định mức thấp thì địa phương triển khai chậm. Mặt khác, dù việc xác định nhu cầu của các đề án hỗ trợ cụ thể đã có tiêu chí, định mức rõ ràng, song các địa phương vẫn xây dựng đề án chưa sát với thực tế. Thời gian xây dựng đề án quá lâu nên chưa đủ cơ sở để phân khai nguồn vốn triển khai thực hiện. Cũng theo Ủy ban Dân tộc, sự chậm trễ của địa phương, một phần là do số lượng cán bộ thực hiện vừa thiếu, vừa có trình độ nghiệp vụ còn hạn chế, lại phải thường xuyên luân chuyển. Trong khi đó, các bộ, ngành Trung ương cũng chưa kịp thời ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn nên đã gây lúng túng trong quá trình triển khai ở địa phương.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì khó khăn lớn nhất đối với công tác cấp đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiều địa phương không còn quỹ đất. Với mức hỗ trợ theo định mức 5 triệu đồng/ha, nhiều địa phương có điều kiện phát triển KT - XH còn khó khăn sẽ không có nhiều khả năng cân đối ngân sách để mua đất cấp cho đồng bào. Thực tế, việc đền bù đất khoán của các nông trường, lâm trường, hộ gia đình thường có giá cao khiến một số địa phương không chỉ chậm chuyển nhượng đất nông, lâm trường cho đồng bào dân tộc thiểu số, thậm chí có nơi không còn đất để xử lý cho hộ thiếu đất. Những địa phương này cũng bị lúng túng trong việc xác định các giải pháp khác để tạo điều kiện cho đồng bào tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo.

Nguyên nhân khiến việc thực hiện chính sách cấp đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đã đề ra theo báo cáo của Chính phủ, các bộ, ngành về cơ bản là đúng với thực tế. Nhưng theo Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc Danh Út, nếu nhìn sâu hơn vào các con số thì có nhiều vấn đề cần phải lý giải xác đáng hơn. Ví dụ, số hộ chưa được cấp đất trồng rừng trong năm 2004 là 320 hộ, song đến năm 2012 vẫn còn 314 hộ. Sau gần 10 năm, số hộ cần được cấp đất trồng rừng chỉ giảm có 6 hộ thì đúng là cần phải suy nghĩ, cần phải tìm ra nguyên nhân thực chất của tình trạng này. Hay như nhận định còn chung chung của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là các bộ, ngành chưa kịp thời ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn - sẽ không giúp nhìn rõ còn có những chính sách nào cần phải được cụ thể hóa, và cụ thể hóa như thế nào. Việc không nhìn rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong quá trình triển khai thực hiện một chính sách rất có ý nghĩa của Đảng và Nhà nước như vậy sẽ khiến cho việc đánh giá tình hình thực hiện chính sách thiếu tính xác thực, thiếu sự sâu sắc và sẽ khó tạo sự thay đổi thiết thực. Và nếu các giải pháp khắc phục vẫn dừng lại ở kiểu định hướng, không cụ thể thì địa phương, các cơ quan hữu quan sẽ còn bị rối trong quá trình thực hiện.

Nhiều thành viên Đoàn giám sát của UBTVQH cũng cho rằng, báo cáo của Chính phủ, bộ, ngành có liên quan mới chú trọng đánh giá những hạn chế từ phía địa phương trong quá trình triển khai thực hiện chính sách. Nếu địa phương không lập dự toán quá cao so với thực tế thì chắc chắn tiến độ triển khai sẽ được cải thiện. Nếu các địa phương tuân thủ chặt chẽ yêu cầu báo cáo, đánh giá định kỳ, thì hẳn bộ, ngành Trung ương sẽ nhanh chóng tổng hợp, đánh giá, từ đó đưa ra hướng dẫn, giải pháp khắc phục kịp thời. Tuy nhiên, thực tế thực hiện chính sách giao đất ở, đất sản xuất cho hộ đồng bào tái định cư của một số công trình thủy điện vừa qua cũng đã cho thấy, nếu các bộ, ngành nhanh chóng hướng dẫn địa phương tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, quy trình thực hiện thì có lẽ, sẽ không có tình trạng gần đến thời hạn phải hoàn thành mà khối lượng công việc vẫn còn ngổn ngang. Nhìn ở khía cạnh này, một số thành viên Đoàn giám sát đặt vấn đề: có phải còn có khoảng trống trong chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc hay không? 

Mặc dù chưa nhận được lý giải thỏa đáng của các bộ, ngành, song theo Chủ tịch Hội đồng Dân tộc K’sor Phước thì, Luật Đất đai hiện nay chưa có quy định phù hợp về việc sở hữu, sử dụng đất đai tại vùng đồng bào dân tộc. Trong khi thực tế, đồng bào dân tộc ở khu vực Tây Nguyên thường có hai thửa ruộng ở hai nơi khác nhau. Hết một vụ, người dân sẽ chuyển sang canh tác ở mảnh ruộng khác, nhằm tận dụng hệ thống cây rừng giúp tăng dưỡng chất cho đất. Và do đặc điểm lịch sử nên chính quyền một số địa phương cũng chưa nắm rõ giới hạn đất ở, đất sản xuất của các hộ gia đình. Vì vậy, không thể căn cứ vào quyền sở hữu đất để thực hiện các chính sách đền bù trong giải phóng mặt bằng, hay cung cấp các dịch vụ tín dụng cho đồng bào. Không chỉ Luật Đất đai chưa chú ý đến đặc điểm riêng của mỗi dân tộc, mà các chính sách của Chính phủ, các bộ, ngành cũng thường để một mẫu số chung là người dân tộc thiểu số. Nhưng trên thực tế, không khó để thấy rằng người dân tộc Mông ở khu vực miền núi phía Bắc có điều kiện canh tác khó khăn hơn người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các chính sách chưa chú ý đến sự khác biệt trong tập quán, phong tục, thói quen, cũng như điều kiện sản xuất, canh tác của đồng bào các dân tộc khác nhau tại các địa bàn khác nhau; các văn bản hướng dẫn thực hiện lại chưa thống nhất cách hiểu về đối tượng được thụ hưởng chính sách nên còn tình trạng đưa các quy định không phù hợp với từng vùng, miền. Những yếu tố này cũng đã gây lúng túng cho quá trình triển khai thực hiện chính sách tại các địa phương. Một hệ quả nữa là, người dân chưa được thụ hưởng đầy đủ những lợi ích của chính sách. Và khi chính sách chưa mang lại hiệu quả thiết thực như mục tiêu đề ra thì nguồn lực đầu tư của Đảng và Nhà nước cũng đã bị sử dụng lãng phí.

Việc cấp đất ở, đất sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn góp phần tạo ra sự cố kết cộng đồng bền chặt, ổn định và phát triển đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Những lúng túng trong quá trình thực hiện vừa qua cho thấy, để thực hiện hiệu quả chính sách này, cần thay đổi từ chính sách, pháp luật đến cách thức thực hiện. Trong đó, các cơ quan hữu quan cần hiểu rõ, xác định đúng đối tượng được thụ hưởng chính sách để có các giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng dân tộc và từng vùng, miền; đồng thời, cũng cần có cái nhìn bao quát hơn để phát huy được nội lực của đồng bào dân tộc thiểu số trong quá trình đổi mới phương thức sản xuất, hòa nhập với xu thế phát triển chung của đất nước. Trên cơ sở này, công tác tổ chức thực hiện phải nghiêm túc; cần nâng cao năng lực, ý thức của cán bộ tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và chấn chỉnh công tác xây dựng quy hoạch tại các địa phương...

Phương Thủy
Xem tin theo ngày:
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang