DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 09:57 | 22/12/2014 (GMT+7)
.

Vị trí, tính chất của QH nước ta trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước (Phần cuối)

25/05/2007
Hiến pháp 1992, bộ máy nhà nước ta có những đổi mới căn bản như: thành lập lại Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ v.v... Sự thay đổi này thể hiện nhận thức và vận dụng mới về nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa: Quyền lực nhà nước là thống nhất song cần có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

      Thể hiện sự tập trung (thống nhất) quyền lực, Hiến pháp khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. 
      Tuy nhiên, thể hiện sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền, Quốc hội chỉ tập trung vào các hoạt động lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản và giám sát tối cao. Đó là những nhiệm vụ thích hợp cho hoạt động của một cơ quan đại biểu không còn mang dáng dấp của  nghị viện tư sản - “Nghị viện không có chế độ đại nghị” (Trường Chinh). 
      Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, Quốc hội đã thành lập trở lại và bổ sung các thiết chế hoạt động thường xuyên như Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách. Thời gian các kỳ họp của Quốc hội cũng được tăng thêm. 
      Để đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đối với các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, mặc dù Hiến pháp quy định lại nhiệm vụ quyền hạn cho các cơ quan đó theo hướng phân công rành mạch trong việc thực hiện các quyền (nhất là đối với Chính phủ) song vẫn bảo đảm cơ chế chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Chẳng hạn, đối với Chính phủ, mặc dù đổi từ Hội đồng Bộ trưởng thành Chính phủ và quy định cho Chính phủ với tính chất là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, nhưng, Chính phủ vẫn là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, mặc dù có nhiều thay đổi theo hướng tăng cường chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn  một cách độc lập, song, đều phải chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội và chịu sự giám sát của Quốc hội. 
      Chính vì tầm quan trọng như vậy, cho nên, ngay từ những ngày đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch đã yêu cầu Chính phủ lâm thời phải tiến hành ngay việc bầu đại biểu Quốc hội "càng sớm càng hay". Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra, bao gồm các đại biểu không ăn lương, không hoạt động chuyên nghiệp, và phải chịu trách nhiệm trước cử tri, có toàn quyền giải quyết mọi vấn đề của nhà nước.
      Trong quá trình tổ chức nhà nước của chúng ta từ 1946 cho đến nay, vẫn tuân thủ theo nguyên tắc này và chính nguyên tắc này đã thể hiện rõ nhất bản chất của nhà nước ta, một nhà nước xã hội chủ nghĩa. 
      Vị trí tối cao của Quốc hội được Hiến pháp quy định tại Chương VI và tại điều đầu tiên của chương này (Điều 83): 
      "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
      Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
      Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân".
      Việc Hiến pháp quy định như vậy là nhằm mục đích thể hiện rõ bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo quan điểm tư tưởng về một nhà nước kiểu mới, khác với các nhà nước trước đây. Và chính đây cũng là đặc điểm nói lên sự khác nhau giữa mô hình tổ chức Nhà nước ta, Nhà nước xã hội chủ nghĩa với các mô hình tổ chức nhà nước khác nhau của chế độ tư bản chủ nghĩa.
      Qua những phân tích trên đây cho thấy rằng, Quốc hội có tính chất đặc biệt quan trọng và vị trí tối cao trong toàn bộ bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không một cơ quan nhà nước nào trong bộ máy các cơ quan nhà nước của nước ta có được một vị trí như vậy. Sở dĩ Quốc hội có  vị trí, tính chất đó là vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân toàn quốc bầu ra một cách trực tiếp. Với cách thức thành lập như vậy cùng với quan điểm "Tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng cơ quan đại diện do nhân dân toàn quốc bầu ra", là cơ sở cho Quốc hội có quyền lực nhà nước cao nhất ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
      Tính chất đại biểu cao nhất của nhân dân của Quốc hội được thể hiện ở chỗ:
      - Về cách thức thành lập, Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Cử tri cả nước (tức là những công dân Việt Nam) bầu ra Quốc hội để nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân thông qua con đường nhà nước.
      - Về cơ cấu, thành phần đại biểu, Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân, cho các vùng lãnh thổ của cả nước. Với cơ cấu, thành phần đó, Quốc hội đã thực sự thể hiện rộng rãi khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta, đại diện cho trí tuệ của đất nước ta.
      - Về thẩm quyền, Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn to lớn để thiết lập trật tự chính trị, pháp lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước. ở nước ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, những vấn đề trọng đại của đất nước. Các quyết định của Quốc hội đều bắt nguồn từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và tất cả đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung của dân tộc, của nhân dân và của đất nước.
      Vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội được thể hiện ở chỗ:
      - Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến - tức quyền làm ra Hiến pháp, đặt ra các quy định cơ bản nhất, quan trọng nhất, làm nền tảng cho việc xác định hệ thống pháp luật quốc gia. Đây là quyền mà không một cơ quan nhà nước nào có được, trừ Quốc hội. Quốc hội không chỉ làm ra Hiến pháp mà còn ban hành các đạo luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội  cơ bản, quan trọng theo từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội có tính chất đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của xã hội. Thông qua chức năng lập pháp của mình mà Quốc hội đảm đương các nhiệm vụ khác với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao trong hệ thống các cơ quan tạo thành bộ máy nhà nước. Thông qua việc thực hiện các đạo luật mà Quốc hội quyết định các chủ trương chính sách lớn, những vấn đề quốc kế dân sinh, dưới hình thức luật pháp mà Quốc hội quy định các nguyên tắc và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
      - Quốc hội là cơ quan có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Đó là các vấn đề liên quan đến chính sách, chiến lược về kinh tế - xã hội, các lĩnh vực đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế -xã hội, quốc phòng, an ninh, tổ chức bộ máy nhà nước, nhân sự cấp cao của Nhà nước, các mối quan hệ xã hội và các hoạt động của công dân. Vị trí tối cao của Quốc hội còn được thể hiện ở sự trực thuộc của các cơ quan nhà nước khác đối với Quốc hội. Xét về nguồn gốc, các cơ quan nhà nước ở trung ương đều trực tiếp, hoặc gián tiếp do Quốc hội thành lập. 
      - Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. Các cơ quan và cá nhân do Quốc hội bầu ra đều có trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội và có thể bị thay đổi thành phần nhân sự khi có quyết định của Quốc hội.
      Qua việc phân tích trên đây cho thấy rằng: Tính chất, vị trí của Quốc hội có mối quan hệ lôgic và biện chứng chặt chẽ. Tính đại biểu cao nhất của Quốc hội là tiền đề bảo đảm để Quốc hội trở thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Chỉ có thể là cơ quan đại biểu cao nhất cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân cả nước, Quốc hội mới có được vị trí đặc biệt quan trọng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Ngược lại, chỉ có thể là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội mới có khả năng đại diện cho ý chí chung của toàn xã hội, thay mặt nhân dân cả nước làm ra Hiến pháp, các đạo luật, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.
      Trong nội dung các nghị quyết của Đảng và các quy định của Hiến pháp 1992 đã xác định một cách có hệ thống những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặc trưng là một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam là Đảng cộng sản Việt Nam. Trong đó, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thực hiện quản lý Nhà nước và xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta có trách nhiệm tổ chức, quản lý việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với vị trí và tính chất đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước đã được xác định từ bản Hiến pháp đầu tiên cho đến nay, Quốc hội nước ta đã và đang thực sự trở thành cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ts. Lê Thanh Vân
Phó Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu – VPQH

      
      Ảnh: banglang.photo.vn

Xem tin theo ngày:
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang