DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 16:25 | 17/09/2014 (GMT+7)
.

Vị trí, tính chất của QH nước ta trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước (Phần một)

24/05/2007
LTS: QH Khóa XII đã được khởi động bằng việc toàn dân đi bầu ĐBQH ngày 20.5 vừa qua. Số lượng ĐBQH của khóa XI tái cử chỉ chiếm khoảng 30%. Như vậy 2/3 ĐBQH Khóa XII sẽ là người mới. Chuyên luận của TS Lê Thanh Vân về vị trí của QH sẽ là những viên gạch đầu cho việc hệ thống kiến thức mà các ĐB có thể cần tới. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.NĐBND

      Trong khoa học chính trị – pháp lý, vị trí pháp lý của một cơ quan nhà nước được xác định bởi năm yếu tố cơ bản sau đây:
      Một là,  thông qua việc bầu cử: Bầu cử là một chế độ dân chủ để thông qua đó, tập thể quần chúng sử dụng quyền năng của mình bỏ phiếu tín nhiệm, bầu ra cơ quan đại diện cho mình, thay mặt mình quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của mình. Thông qua việc bầu cử ra cơ quan đại diện, tập thể quần chúng ủy thác niềm tin và nguyện vọng của mình cho cơ quan này. ở phạm vi rộng lớn hơn, thì nhân dân của một nước, thông qua chế độ bầu cử để xác lập nên cơ quan đại diện cho mình, thay mặt mình quyết định các công việc của đất nước. Đó chính là Quốc hội. 
       Hai là, thông qua việc xác định thẩm quyền: Thẩm quyền là những nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật cho phép để một cơ quan nhà nước tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện chức năng của mình. Có được thẩm quyền, các cơ quan này mới có khả năng thực hiện các hành vi pháp lý, tác động lên các quan hệ xã hội có liên quan. Đây là yếu tố bảo đảm cho việc xác định vị trí pháp lý của một cơ quan nào đó là cao hay thấp, có quyền chi phối tổ chức và hoạt động của các cơ quan khác hay bị phụ thuộc vào một cơ quan nào đó.
       Ba là, thông qua hình thức hoạt động: Hình thức hoạt động là những biểu hiện bên ngoài các phương diện thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một cơ quan nhất định. Tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành, mà các cơ quan nhà nước có cơ cấu, tổ chức khác nhau, hình thức hoạt động khác nhau. Đối với các cơ quan được hình thành thông qua việc bầu cử, thì hình thức hoạt động chủ yếu là các cuộc họp tập thể. Thông qua các cuộc họp tập thể đó, các cơ quan này xem xét, thảo luận và ra các quyết định tập thể. Đối với các cơ quan khác, thì hình thức hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào việc quy định của pháp luật. Theo đó, cơ quan này có hình thức hoạt động tập thể, cơ quan khác có hình thức hoạt động theo chế độ cá nhân.
      Bốn là, thông qua việc ban hành văn bản: Quyền ban hành văn bản là một nội dung thể hiện thẩm quyền của một cơ quan nhà nước. Thông qua việc xác định vị trí, thẩm quyền của cơ quan nhà nước, pháp luật quy định các hình thức văn bản mà mỗi cơ quan được phép ban hành. Đây là yếu tố để xác định thứ bậc, trật tự về vị trí pháp lý của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước.
      Năm là, thông qua các mối quan hệ tác động và phụ thuộc giữa các cơ quan Nhà nước với nhau: Đây là một trong những yếu tố xác định các tuyến quan hệ cụ thể của một cơ quan này với các cơ quan khác và khả năng chi phối của nó với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau cho phép xác định thứ bậc về vị trí pháp lý của mỗi cơ quan là cao hay thấp, là chi phối hay phụ thuộc.
      Năm yếu tố cơ bản nêu trên đã tạo nên vị trí pháp lý của một cơ quan nhà nước và có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau. Yếu tố này là tiền đề cho yếu tố kia tồn tại và ngược lại. Các yếu tố đó tạo nên sự thống nhất lôgic cả về hình thức và nội dung, thể hiện vị trí pháp lý trong khoa học về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, tạo nên sức mạnh của nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.
      Từ những phân tích trên cho thấy: Vị trí pháp lý của Quốc hội là tổng hợp các mối quan hệ quy định vị trí, tính chất, vai trò của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, được Hiến pháp, Luật ghi nhận. Hay nói cách khác, vị trí pháp lý của Quốc hội được thể hiện trong các mối quan hệ về phân công quyền lực nhà nước cũng như sự chi  phối của nó đối với các cơ quan nhà nước khác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước bằng các quy định của Hiến pháp và Luật.
      Trước hết, vị trí pháp lý của Quốc hội được ghi nhận một cách cơ bản và chủ yếu trong các quy định của Hiến pháp - văn bản pháp lý có hiệu lực pháp lý cao nhất. Sau đó, vị trí pháp lý của Quốc hội được quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật khác, tùy thuộc vào chế độ chính trị, tập quán chính trị hay kỹ thuật lập pháp của mỗi quốc gia.
      Nhận định về mô hình của cơ quan đại diện là các xô viết, Lê Nin đã nhấn mạnh rằng: Việc tổ chức ra các xô viết ... mở đầu cho cái gì lớn lao, mới mẻ, từ trước cho đến lúc bấy giờ chưa hề có trong lịch sử cách mạng thế giới. Và, trong tác phẩm "Những người bôn - sê - vích sẽ giữ được chính quyền hay không", Lê Nin đã phân tích, nêu bật 6 đặc điểm của cơ quan dân cử xã hội chủ nghĩa:
      - Là bộ máy nhà nước mới, tiêu biểu trước hết cho lực lượng vũ trang công nông, gắn chặt với nhân dân và vô cùng mạnh mẽ cả về lực lượng và tinh thần cách mạng.
      - Nó thiết lập được với đa số nhân dân một mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít, dễ kiểm tra và đổi mới đến nỗi người ta không tài nào tìm ra được một cái gì tương tự như trong bộ máy nhà nước cũ.
      - Do được bầu ra và có thể thay đổi thành phần tùy theo ý nguyện của nhân dân mà không cần phải có những thủ tục quan liêu, nên bộ máy  đó dân chủ hơn tất cả các bộ máy kia rất nhiều.
      - Nó bảo đảm được mối liên hệ vững chắc với đủ các nghề nghiệp, do đó, làm dễ dàng cho việc thi hành một cách không quan liêu những cải cách về nhiều mặt nhất, sâu sắc nhất.
      - Nó là hình thức tổ chức của đội tiên phong, nghĩa là của bộ phận giác ngộ nhất, cương quyết nhất, tiên tiến nhất của giai cấp bị áp bức, tức là công nhân và nông dân, là bộ máy mà đội tiên phong của các giai cấp bị áp bức có thể dùng để nâng cao, giáo dục, rèn luyện và lôi kéo theo mình toàn thể quần chúng đông đảo trong các giai cấp ấy, những quần chúng mà từ trước đến nay vẫn đứng hoàn toàn bên ngoài đời sống chính trị, bên ngoài lịch sử.
      - Nó cho phép kết hợp những cái hay của chế độ đại nghị với những cái hay của chế độ dân chủ trực tiếp và chân chính, nghĩa là cho phép kết hợp, ở cá nhân những đại biểu do nhân dân bầu ra, cả về quyền lập pháp, cả việc thi hành pháp luật. So với chế độ đại nghị tư bản, thì đó là một bước tiến có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới trong quá trình phát triển chế độ dân chủ.
      Ở nước ta, từ buổi đầu xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á,  mô hình  tổ chức Quốc hội đã từng bước được xác lập một cách rất rõ nét. Quan điểm tổ chức cơ chế quyền lực nhà nước và Quốc hội ở nước ta vừa mang những cái chung của mô hình bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa có điểm đặc thù riêng.
      …Về vị trí, tính chất của Quốc hội trong cơ chế tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, Hiến pháp 1946 đã thể hiện tư tưởng chế độ dân ủy đã được nêu ra, mặc dù trong quá trình xây dựng Hiến pháp đã chịu nhiều sức ép, thậm chí bị chống phá của các thế lực phản động trong và ngoài nước. Trên tinh thần đoàn kết rộng rãi, Đảng ta vừa có sự nhượng bộ, nhưng vừa bảo đảm các nguyên tắc xuyên suốt của mình. Văn kiện Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam theo tinh thần dân chủ nhân dân - dân chủ mới; chống lại những chủ trương làm cho Hiến pháp nước ta thành một bản Hiến pháp tầm thường theo kiểu hiến pháp dân chủ tư sản. Chống lại chủ trương đánh phá chế độ dân ủy...”. Tất cả những điều vừa có tính nguyên tắc vừa thể hiện sự mềm dẻo đã được thể hiện rõ trong cơ chế quyền lực nhà nước tại Hiến pháp 1946.
       Hiến pháp tuyên bố tất cả quyền bính trong nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực bằng cách bầu ra cơ quan đại diện quyền lực, ứng cử vào các cơ quan đó và phúc quyết về hiến pháp; và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Do đó, ngay từ Hiến pháp 1946, nhân dân ta đã thực hiện việc làm chủ đất nước bằng cả hình thức dân chủ đại diện và  hình thức dân chủ trực tiếp. Cơ quan đại diện quyền lực cao nhất của nhân dân là Nghị viện nhân dân. 
      Tuy nhiên, do Hiến pháp 1946 được thông qua trong điều kiện chiến tranh xâm lược đang lan rộng, chưa được ban bố thi hành và Nghị viện nhân dân cũng chưa thể tổ chức được. Vì vậy, Quốc hội lập hiến được bầu ra tại cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 01 năm 1946 tiếp tục hoạt động cho đến khi bầu được Nghị viện nhân dân - thực chất là Quốc hội, đã thế chân Nghị viện nhân dân. Việc không gọi cơ quan này là Quốc dân đại hội - mặc dù đã trù liệu và thực tế đã tổ chức ra - thể hiện sự nhân nhượng nhằm mục đích đoàn kết dân tộc. Song, Nghị viện nhân dân không phải là nghị viện kiểu tư sản. Nếu như nghị viện tư sản chỉ được coi là cơ quan lập pháp, đứng độc lập, ngang bằng với các cơ quan hành pháp, tư pháp và thường là bị chèn ép, thao túng và khi nói nghị viện là nói đến chế độ đại nghị trong đó có sự phân chia các quyền dễ dẫn đến đối lập các nhánh quyền lực làm cho quyền lực nhân dân dễ bị triệt tiêu, trở thành hình thức, thì Nghị viện nhân dân trong Hiến pháp 1946 là “cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”(Điều 22). 
      Tính có quyền cao nhất của Nghị viện nhân dân thể hiện ở chỗ: Nghị viên... thay mặt cho toàn thể nhân dân (Điều 25); Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều 23); Nghị viện nhân dân lập ra Chính phủ (theo trình tự: bầu Chủ tịch nước và Phó chủ tịch nước, biểu quyết (phê chuẩn) Thủ tướng theo lựa chọn của Chủ tịch nước và danh sách các bộ trưởng theo lưạ chọn của Thủ tướng). ở đây, điều ràng buộc quan trọng giữa Chính phủ và Nghị viện nhân dân là Chủ tịch nước (đứng đầu Chính phủ) và Thủ tướng (đứng đầu Nội các) phải là nghị viên (chọn trong Nghị viện nhân dân). Các Bộ trưởng cũng chọn trong Nghị viện trừ Bộ trưởng tạm thay (các điều 45 - 48); giám sát hoạt động của Chính phủ (Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức, Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức (Điều 54).

Ts. Lê Thanh Vân
Phó vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu – VPQH

      Ảnh: Bằng Lăng, photo.vn

Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang