KINH TẾ
Cập nhật 22:59 | 23/08/2019 (GMT+7)
.

Cấp bách xây dựng Chiến lược quốc gia về năng suất lao động

19:43 | 07/08/2019
Năng suất lao động của nước ta tăng đều qua các năm, bình quân giai đoạn 2011 - 2018 tăng 4,88%/năm, tuy nhiên mức này vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực. Trong bối cảnh tự do hóa thương mại và Cách mạng Công nghiệp 4.0, giới phân tích cho rằng điểm nhấn căn bản để thúc đẩy tăng trưởng chính là cải thiện năng suất lao động, trong đó cần xây dựng và thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về nâng cao năng suất lao động.

Tăng đều vẫn thua xa nhiều nước ASEAN

Hôm nay, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị Cải thiện năng suất lao động quốc gia. Hội nghị được kỳ vọng sẽ đưa ra những giải pháp thúc đẩy năng suất lao động trong thời gian tới, trong đó có việc phát động Phong trào năng suất lao động quốc gia.

Theo Tổng cục Thống kê, thời gian qua, năng suất lao động tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Theo đó, với mức tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt 7,08%, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước tính đạt 102,2 triệu đồng/lao động (tương đương 4.521 USD/lao động); tính theo giá so sánh, tăng 6% so với năm 2017. Tính chung giai đoạn 2011 - 2018, năng suất lao động tăng bình quân 4,88%/năm. Tính theo sức mua tương đương (PPP 2011), năng suất lao động giai đoạn 2011 - 2018 tăng bình quân 4,8%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của Singapore (1,4%/năm), Malaysia (2%/năm); Thái Lan (3,2%/năm)...

Mặc dù vậy, đại diện Tổng cục Thống kê thừa nhận, năng suất lao động của Việt Nam hiện vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực, đáng chú ý là khoảng cách chênh lệch tuyệt đối vẫn tiếp tục gia tăng. Tính theo sức mua tương đương (PPP 2011), năng suất lao động của Việt Nam năm 2018 đạt 11.142 USD, chỉ bằng 7,3% mức năng suất của Singapore, bằng 19% của Malaysia và 37% của Thái Lan. Chênh lệch mức năng suất lao động (tính theo PPP 2011) của Singapore và Việt Nam tăng từ 132.566 USD (năm 2011) lên 141.276 USD (năm 2018); tương tự, của Malaysia từ 42.397 USD lên 47.545 USD…


Năng suất lao động của nước ta thấp hơn nhiều nước trong khu vực
Nguồn: Báo Đầu tư chứng khoán

Thể chế vẫn là rào cản

Lý giải nguyên nhân khiến năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn thấp, đại diện Tổng cục Thống kê cho rằng, nguyên nhân trước tiên bởi quy mô nền kinh tế còn nhỏ. Bên cạnh đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nhưng còn chậm; các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ mang tính chất động lực hay huyết mạch của nền kinh tế như tài chính, ngân hàng, du lịch còn chiếm tỷ trọng thấp.

Ngoài ra, máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu, nhiều doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, tụt hậu 2 - 3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới. Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế cũng khiến năng suất lao động tăng chậm, thể hiện ở tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động còn lớn. Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế tăng dần qua các năm nhưng đến năm 2018 mới chỉ đạt 21,9%. Như vậy, cả nước hiện có tới 42,4 triệu lao động (chiếm 78,1% tổng số lao động) chưa được đào tạo để đạt trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó.

Một nguyên nhân quan trọng nữa ảnh hưởng đến việc tăng năng suất lao động là vẫn còn những rào cản từ thể chế. Phân tích rõ hơn điều này, đại diện Tổng Cục Thống kê cho rằng, mặc dù thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực thực hiện cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế, góp phần tạo thêm động lực cho nền kinh tế song vẫn còn một số “điểm nghẽn” trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, ảnh hưởng tới quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Theo đó, thể chế kinh tế thị trường còn thiếu đồng bộ, đặc biệt là thị trường lao động, thị trường công nghệ, thị trường bất động sản. Do xuất phát điểm thấp và đang trong giai đoạn chuyển đổi, việc phát triển những thị trường có thể chế đặc thù trên gặp nhiều khó khăn, hệ thống pháp luật, chính sách cho việc phát triển các loại thị trường chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao và chưa theo kịp sự phát triển của các loại thị trường này. Môi trường kinh doanh của nước ta hiện mới ở vị trí thứ 68/190 nền kinh tế...

Tập trung đào tạo kỹ năng cho lao động

Theo giới phân tích, đối với mỗi quốc gia, tăng trưởng GDP nếu chỉ dựa trên tăng việc làm giản đơn, trình độ công nghệ và tay nghề lao động thấp thì thường không cao và thiếu bền vững. Trong khi tăng trưởng GDP theo hướng tăng năng suất lao động tuy là thách thức lớn, nhất là đối với một nước mà đội ngũ lao động có tư duy nông nghiệp lâu đời và tỷ lệ qua lao động qua đào tạo không cao như Việt Nam, nhưng đây lại là hướng đi có tiềm năng để tạo ra tăng trưởng cao, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong bối cảnh tự do hóa thương mại và Cách mạng Công nghiệp 4.0 ngày càng phát triển sẽ là cơ hội để Việt Nam phát triển kinh tế nếu có định hướng phát triển đúng và giải pháp hiệu quả. Một trong những điểm nhấn căn bản để thúc đẩy tăng trưởng chính là cải thiện năng suất lao động. Muốn vậy, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm cho rằng, trước tiên, Chính phủ cần sớm thành lập Ủy ban Năng suất quốc gia, trong đó thiết lập một cơ quan thường trực, chuyên sâu về năng suất lao động có nhiệm vụ phối hợp các động lực tăng năng suất quốc gia của Việt Nam; cử các đoàn sang học tập kinh nghiệm quốc tế để áp dụng vào Việt Nam. Đồng thời, cần xây dựng và thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về nâng cao năng suất lao động của Việt Nam với mục tiêu chung và cụ thể trong từng giai đoạn để bắt kịp các nước trong khu vực…

Đối với khu vực doanh nghiệp, việc nâng cao năng suất lao động khu vực này có ý nghĩa quyết định tới việc nâng cao năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, các doanh nghiệp cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu như xác định chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế và sở trường, năng lực tài chính của doanh nghiệp; lựa chọn quy mô phù hợp, phát triển những sản phẩm mới có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao. Bên cạnh đó, đổi mới tư duy để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc ứng dụng các công nghệ quản lý tiên tiến trên thế giới có điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù và văn hóa của doanh nghiệp Việt Nam. Tập trung đầu tư nâng cao năng lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, quản trị doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần tập trung đào tạo kỹ năng cho người lao động; tổ chức lại lao động, trong đó chú trọng kết hợp hiệu quả  giữa lao động và người máy theo từng công đoạn sản xuất. Cung cấp sản phẩm hướng tới nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy phát triển những giải pháp sản xuất và kinh doanh dựa trên số hóa, tích hợp công nghệ tiên tiến…

Vũ Thủy
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang