KINH TẾ
Cập nhật 19:24 | 11/12/2018 (GMT+7)
.

Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu nông sản Việt

09:27 | 08/11/2018
Ngành nông nghiệp đã vượt lên chính mình, tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong năm 2018; việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp có chuyển biến rõ nét, sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh đã thực sự nâng cao thu nhập cho người dân. Đây là nhận định của các ĐBQH tại Kỳ họp thứ 6 đang diễn ra. Tuy vậy, một thực tế khác cũng được chỉ ra: Dù là nước xuất khẩu nông sản lớn nhưng Việt Nam vẫn thiếu thương hiệu nông sản.

ĐBQH Mai Sỹ Diến (Thanh Hóa): Sản xuất thâm canh đã nâng thu nhập cho nông dân

Việc xây dựng nông thôn mới gắn với việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp đã chú trọng đầu tư cho sản xuất và có những chuyển biến rõ nét, như hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thủy nông được nâng cấp, mạng lưới điện hạ áp nông thôn đã được chú trọng đầu tư ở những vùng thâm canh. Việc áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đã đạt những thành tựu mới, hình thành những vùng chuyên canh cây trồng có giá trị kinh tế cao theo mô hình cánh đồng lớn, nhu cầu cơ giới hóa trong nông nghiệp đã được đáp ứng. Những thành tựu đó góp phần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch lao động trong nông nghiệp, giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, nông sản. Đến thời điểm này, đã khẳng định được một điều: Sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh đã thực sự nâng cao thu nhập cho người dân, doanh nghiệp. Tăng trưởng khu vực nông nghiệp 9 tháng năm 2018 đạt 3,65%, cao nhất trong hơn 5 năm qua đã minh chứng cho điều đó.

Tôi thấy chưa có thời điểm nào các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới được quan tâm như hiện nay. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách còn có những bất cập. Trong chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã (HTX) giai đoạn 2015 - 2020, Nhà nước có nhiều chính sách chung, chính sách ưu đãi riêng với các HTX nhưng số lượng HTX được hưởng còn hạn chế. Như chính sách về tín dụng, cả nước chỉ có 35 HTX được vay gần 70 tỷ đồng vốn từ ngân hàng thương mại không có tài sản bảo đảm. Hiện nay có gần 10.000 HTX nông nghiệp nhưng chỉ có hơn 3.300 HTX hoạt động hiệu quả. Đây là con số rất khiêm tốn, có nguyên nhân từ bất cập về chính sách khuyến khích phát triển HTX, báo hiệu việc phấn đấu đến năm 2020 có 15 nghìn HTX và liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ không đạt. HTX nông nghiệp là giải pháp quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, cơ cấu lại nông nghiệp và đặc biệt là góp phần quan trọng để không phải lo giải cứu nông sản cho nông dân. Đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành chỉ đạo thực hiện nghiêm các chính sách hiện có về HTX, tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã 2012 nhằm tăng tính khả thi của các quy định của pháp luật, rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ ưu đãi phát triển kinh tế HTX theo hướng thiết thực.

ĐBQH Nguyễn Như So (Bắc Ninh): Ba nút thắt cần giải quyết

Để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp đạt kết quả cao thì bài toán rời rạc trong chuỗi giá trị nông nghiệp cần được tháo gỡ. Hiện nay mô hình liên kết của chuỗi đứt đoạn tại nhiều phân khúc, chỉ có 50% trong tổng số 700 chuỗi giá trị sản xuất hoạt động có hiệu quả. Do đó, để xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững cần giải quyết ba nút thắt sau.

Thứ nhất, hạn chế tối đa chi phí sản xuất bằng việc mở rộng cơ chế bảo tồn và phát triển giống, phân bón, thuốc trừ sâu trong nước, tránh lãng phí nguồn ngoại tệ lớn do phải nhập khẩu nguyên liệu này. 9 tháng năm 2018, tổng giá trị nhập khẩu phân bón, thuốc trừ sâu và nguyên liệu vào Việt Nam lên tới 1,52 triệu USD. Nghẽn nguyên liệu đầu vào cũng “bóp chết” khả năng cạnh tranh của nông sản Việt.

Thứ hai, muốn sản xuất theo chuỗi ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 trong sản xuất nông nghiệp cần đoạn tuyệt hoàn toàn với quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Tuy vậy, cái khó là hiện nay chúng ta đang có 8,6 triệu hộ nông dân với gần 70 triệu mảnh ruộng nhỏ, lẻ. Do đó, cần có cơ chế thúc đẩy nhanh, quyết liệt hơn nữa quá trình tích tụ đất đai sản xuất tập trung, đưa công nghệ cao thâm nhập vào tất cả khâu trong chuỗi giá trị nhằm phát triển nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh HTX, liên kết với nông dân, với doanh nghiệp hợp tác xã, coi doanh nghiệp là động lực, là đầu tàu dẫn đầu chuỗi sản xuất như các nước hiện xung quanh ta đang làm.

Thứ ba, bảo quản, chế biến là khâu cuối cùng quyết định giá trị nông sản. Tuy nhiên năng lực bảo quản, chế biến sau thu hoạch của nước ta rất yếu, chưa kịp với sản xuất. Hiện có 90% nông sản xuất khẩu dưới dạng thô, hàm lượng chế biến chất lượng và giá trị thấp, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch rất cao, lên tới 40 - 45%. Do vậy, điều cần làm là nâng cao năng lực bảo quản, chế biến thông qua những chính sách hỗ trợ vốn, thuế tín dụng để nhập khẩu công nghệ. Sau thu hoạch, Nhà nước chủ động linh hoạt ban hành và thực thi chính sách, tránh tình trạng “cửa rộng nhưng nhiều ổ khóa” khiến cho người sản xuất không biết đâu để tiếp cận.

ĐBQH Trương Anh Tuấn (Nam Định): Có những cuộc thi vinh danh sản phẩm nông nghiệp

Trong thực tế, người nông dân luôn phải trả lời một câu hỏi lớn, đó là nuôi con gì, trồng cây gì để bảo đảm cuộc sống, đạt hiệu quả kinh tế cao. Câu hỏi đó thật khó đối với người nông dân, bởi do thiếu thông tin, do trình độ còn hạn chế nên cơ bản họ chỉ lựa chọn cây trồng, giống con nuôi theo truyền thống, thói quen và theo mọi người xung quanh. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những hệ lụy của nghèo khó như sản xuất không kế hoạch, không theo thị trường, khi thừa, khi thiếu, khi mất giá, khi mất mùa. Tôi thấy rằng câu hỏi trồng cây gì, nuôi con gì phải thuộc về trách nhiệm của các nhà khoa học, của các nhà quản lý phải có trách nhiệm giúp người nông dân trả lời câu hỏi đó. Tôi cho rằng, cần quan tâm để tăng cường hơn nữa hiệu quả liên kết giữa nhà nông với các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp; nêu cao trách nhiệm của nhà quản lý, chính quyền địa phương đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay.

Vấn đề thứ hai, đó là cần quan tâm xây dựng những thương hiệu mạnh cho nông sản Việt. Chúng ta phấn khởi trước kết quả sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua. Bộ trưởng Bộ NN - PTNT cũng nêu hồ tiêu, điều, ca cao xuất khẩu dẫn đầu thế giới. Cà phê đứng thứ hai, xuất khẩu gạo đứng thứ ba nhưng nếu xem kỹ loại giống nào ở đâu nuôi trồng tốt, đạt chất lượng cao nhất thì câu hỏi này xem ra rất khó trả lời. Khó trả lời là rõ ràng, bởi vì thương hiệu của chúng ta chưa rõ. Trong thực tế hiện nay, thương hiệu không rõ nên sản phẩm lẫn lộn, loại này lẫn vào loại kia, tốt xấu lẫn lộn và dẫn đến làm mất uy tín, mất giá sản phẩm.

Để khẳng định thương hiệu nông sản Việt, tôi thấy cần có những cuộc thi công khai, minh bạch để tôn vinh chất lượng sản phẩm nông nghiệp, định hướng cho nhà sản xuất, định hướng cho nông dân. Theo thống kê chưa đầy đủ, chúng ta có hơn 200 loại thóc và từ đó cũng có hơn 200 loại gạo. Địa phương nào cũng tự hào là mình có gạo ngon, gạo đặc sản. Nhưng gạo nào là ngon nhất thì hiện nay chưa có câu trả lời chính xác bởi vì thực tế chúng ta đã tổ chức thi gạo ngon bao giờ đâu. Chúng ta đã có thi Hoa hậu bò sữa nhưng lúa gạo gắn với chúng ta hàng nghìn năm qua lại chưa có cuộc thi nào công khai chính thức để vinh danh gạo ngon của Việt Nam.

ĐBQH Nguyễn Thanh Xuân (TP Cần Thơ): Thương hiệu là cái khó nhất!

Về kinh tế - xã hội, năm 2018 và 3 năm gần đây có điểm sáng nổi bật đó là sự tăng trưởng rất tốt của ngành nông nghiệp và nông lâm thủy sản dù phải đối phó với nhiều khó khăn về thời tiết, thiên tai, các quy định ngày càng khó hơn của thị trường nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lượng.

Ngành nông nghiệp và thủy sản đang tái cơ cấu, tái cấu trúc theo hướng nâng cao giá trị gia tăng nhưng vẫn còn một số khó khăn, nổi bật là vấn đề thương hiệu, vấn đề tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa và phát triển công nghiệp chế biến nông sản. Trong đó, thương hiệu là cái khó nhất hiện nay. Chính vì thế, giá trị sản xuất của ngành chưa cao, xuất khẩu nhiều nhưng thô là chính, chưa có sản phẩm mang thương hiệu Việt, chưa thể ghi là “made in Vietnam” mà hầu hết mang thương hiệu của các nhà nhập khẩu và chỉ ghi là sản phẩm của Việt Nam. Đây là nguyên nhân chính làm giá trị nông nghiệp và thủy sản của chúng ta thấp. Vấn đề thương hiệu luôn được người sản xuất và các cơ quan quản lý nhà nước nhắc rất nhiều, nhất là trong các kỳ họp Quốc hội vừa qua. Lần này, tôi xin kiến nghị Chính phủ, Bộ  NN - PTNT  và các bộ, ngành liên quan cần quan tâm đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu và nếu được thì báo cáo hoặc thông tin thêm cho ĐBQH về tình hình xây dựng thương hiệu ngay.

Tôi nghĩ rằng nếu có thương hiệu thì kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản có thể tăng lên gấp nhiều lần, không phải là 30 tỷ USD mà có thể lên đến 50 - 60 tỷ USD. Trong thời gian tới, nếu ứng dụng nông nghiệp và thủy sản công nghệ cao, nâng cao sản lượng cùng với có thương hiệu thì chắc chắn đóng góp vào vai trò của ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục tăng, nhất là ở những vùng nông nghiệp trọng điểm của quốc gia. Ngoài ra, chính sách và cơ chế có phát triển cho công nghiệp chế biến nông sản cũng là nhu cầu cấp bách hiện nay cần được quan tâm.

Vy Hương thực hiện; Ảnh: Quang Khánh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang