KINH TẾ
Cập nhật 22:49 | 19/09/2017 (GMT+7)
.

Trang trại - hình thức tổ chức lao động tiến bộ

08:17 | 12/09/2017
Tổ chức sản xuất, lao động theo mô hình trang trại là một trong những giải pháp tích cực nhằm thực hiện hiệu quả đường lối của Đảng: “Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao...”(1). Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản ngày 1.7.2016(2), mô hình này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ.

Hướng đi đúng đắn

 Tính đến thời điểm điều tra (1.7.2016), các trang trại đã sử dụng nhiều đất đai, tạo được nhiều việc làm. Đến tháng 7.2016, các trang trại đã sử dụng 187.000ha đất nông, lâm và thủy sản, tăng 35.900ha so với năm 2011. Trong đó có 60.000 ha đất trồng cây hằng năm; 79.500ha đất trồng cây lâu năm; 17.600ha đất lâm nghiệp; 29.800ha đất nuôi trồng thủy sản. Bình quân một trang trại sử dụng 5,6ha đất sản xuất nông, lâm, thủy sản. Một số vùng đạt cao như đồng bằng sông Cửu Long, một trang trại sử dụng tới 8,8ha; Đông Nam Bộ 7,6ha, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 7,4ha, Tây Nguyên 6,4ha.

Theo tiêu chí trang trại được quy định tại Thông tư 27/2011/-BNNPTNT ngày 13.4.2011 của Bộ NN-PTNT, tính đến 1.7.2016 (thời điểm Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản lần thứ 3), cả nước đã có 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (tăng 67,2%) so với năm 2011. Giai đoạn 2011 - 2016, bình quân mỗi năm số lượng trang trại của cả nước tăng hơn 13%. Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng tăng nhanh nhất (6.435 trang trại), chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm của cả nước trong 5 năm qua. Vùng Trung du miền núi phía Bắc tăng 2.213 trang trại, chiếm 16,4%. Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung tăng 1.885 trang trại, chiếm 14%. Vùng Tây Nguyên tăng 1.513 trang trại, chiếm 11,2%. Vùng Đông Nam Bộ tăng 1.410 trang trại, chiếm 10,5%. Vùng đồng bằng sông Cửu Long thay đổi không đáng kể.

Phân chia theo lĩnh vực sản xuất thì, trồng trọt có 9.216 trang trại, chiếm 27,5% tổng số trang trại cả nước; chăn nuôi 20.869 trang trại, chiếm 62,4%; lâm nghiệp 112 trang trại, chiếm 0,3%; thủy sản 2.350 trang trại, chiếm 7%; có 941 trang trại tổng hợp, chiếm 2,8%. Nhìn chung xu thế chuyển dịch thời gian qua là giảm trang trại trồng trọt, thủy sản và tăng trang trại chăn nuôi. Tỷ trọng trang trại trồng trọt giảm từ 43,3% năm 2011 xuống còn 27,5% năm 2016; trang trại thủy sản giảm từ 22,6% xuống còn 7%; trang trại chăn nuôi tăng từ 31,7% lên 62,4%.

Các trang trại đã thu hút và sử dụng 134.700 lao động làm việc thường xuyên, tăng 40.000 lao động (tăng 42,4%) so với năm 2011. Trong đó, lao động của hộ chủ trang trại là 75.800 người, chiếm 56,3% tổng số lao động, còn lại là lao động thuê mướn thường xuyên. Bình quân một trang trại sử dụng 4 lao động thường xuyên. Trong đó cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 5 lao động, các vùng khác như đồng bằng sông Cửu Long 4,4 lao động, Tây Nguyên 4 lao động. Số lao động sử dụng thường xuyên bình quân của một trang trại giảm so với năm 2011 (4 so với 4,7 người). Nguyên nhân chủ yếu là do các trang trại áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại hơn; mặt khác do số trang trại trồng trọt vốn dĩ sử dụng nhiều lao động nay giảm mạnh, kéo theo giảm số lượng lao động được sử dụng.

 Mô hình sản xuất trang trại mang lại những kết quả cụ thể, như tổng thu từ sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2016 đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (tăng 138,2%) so với năm 2011. Bình quân một trang trại đạt 2,78 tỷ đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%). Trong đó trang trại ở các vùng là: Đồng bằng sông Hồng đạt 2,741 tỷ đồng, tăng 194 triệu đồng (tăng 7,6%); Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung đạt 2,745 tỷ đồng, tăng 1,139 tỷ đồng (tăng 70,9%); Tây Nguyên đạt 1,928 tỷ đồng, tăng 614 triệu đồng (tăng 46,7%); Đông Nam Bộ đạt 3,866 tỷ đồng, tăng 1,468 tỷ đồng (tăng 61,2%); Đồng bằng sông Cửu Long đạt 2,31 tỷ đồng, tăng 812 triệu đồng (tăng 54,2%) so với năm 2011.

Kết quả trên cho thấy, phát triển kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, là điều kiện để lao động nông nghiệp phát huy lợi thế, nâng tầm quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng suất lao động và nâng dần sức cạnh tranh của nông phẩm hàng hóa. Kinh tế trang trại đã góp phần tích cực chuyển dịch từ sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ sang sản xuất lớn, tập trung. Trang trại cũng chính là một phương pháp tích tụ ruộng đất, tập trung vốn đầu tư, phân công và hiệp tác lao động nông nghiệp hợp lý hơn. Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu lao động diễn ra đồng thời với xu thế tích cực, hợp lý hơn; góp phần xóa đói, giảm nghèo hiệu quả ở khu vực nông thôn...

Tránh “mạnh ai nấy làm”

Để tiếp tục phát triển kinh tế trang trại đúng hướng, đạt hiệu quả cao hơn, rất cần đổi mới và thực thi đồng bộ nhiều biện pháp, từ định hướng phát triển trang trại đến tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Song trước mắt có thể tập trung vào mấy biện pháp căn bản sau:

Trước hết, về tầm quản lý nhà nước, cần đổi mới một số chính sách liên quan trực tiếp đến phát triển trang trại. Đó là chính sách đất đai, cần sửa đổi Luật Đất đai hiện hành theo hướng, ai thực sự có năng lực sản xuất (xây dựng trang trại, thành lập doanh nghiệp nông nghiệp...) thì đều có thể tích tụ ruộng đất đạt quy mô phù hợp với khả năng, năng lực sản xuất. Đổi mới điều kiện vay mượn để chủ trang trại có thể tiếp cận dễ dàng với các khoản vốn vay tín dụng, ngân hàng (thiếu vốn đang là khó khăn lớn của nhiều trang trại).

Hai là, bản thân các trang trại phải tạo mối liên kết ngành hàng sản xuất với nhau (về khối lượng sản phẩm, chất lượng, mẫu mã hàng hóa với phương châm “buôn có bạn, bán có phường”...), tạo thành sức mạnh cạnh tranh; cao hơn nữa là tạo được thị trường tiêu thụ (đầu ra) tương đối rộng lớn và ổn định, nhất là thị trường xuất khẩu. Tạo dựng thương hiệu của trang trại, các mặt hàng sản xuất kinh doanh. Trong “buổi ban đầu” rất nên tránh “mạnh ai nấy làm”, triệt tiêu sức mạnh lẫn nhau...
________________

(1): Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trang 196, Nxb Chính trị quốc gia, HN 2011.

(2): Báo cáo sơ bộ Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016; trang 25-31; Nxb Thống kê, HN tháng 4.2017.

Ts. Bùi Ngọc Thanh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang