KINH TẾ
Cập nhật 23:26 | 18/08/2017 (GMT+7)
.

Cơ hội cho thương hiệu xanh

07:46 | 20/04/2017
Gần 80% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các thương hiệu có cam kết “xanh” và “sạch”. Thông tin này được nêu trong hội thảo “Chiến lược thương hiệu gắn với phát triển xanh” diễn ra tại Hà Nội sáng 19.4.

Thương hiệu “xanh” tăng trưởng cao

 Chương trình cấp nhãn sinh thái của Việt Nam (nhãn xanh Việt Nam) được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt năm 2009 theo Quyết định số 253/QĐ-BTNMT ngày 5.3.2009 nhằm mục tiêu tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường thông qua việc khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường được Nhà nước đánh giá và chứng nhận. Các tiêu chí nhãn xanh Việt Nam được xây dựng dựa trên việc đánh giá khả năng kiểm soát, hạn chế tác động đối với môi trường của các loại sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng theo quan điểm xem xét toàn bộ vòng đời sản phẩm.

Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng - Đại diện công ty Nielsen Việt Nam khu vực phía Bắc - Đặng Thúy Hà cho biết, có đến gần 80% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các thương hiệu có cam kết “xanh” và “sạch”, nguyên liệu bảo đảm thân thiện với môi trường. Cụ thể, trong 5 người được hỏi thì có 4 người sẵn sàng chi trả cao hơn để mua các sản phẩm có cam kết về những tác động tích cực đến môi trường và xã hội. Người Việt quan tâm nhiều đến các vấn đề về nguồn nước sạch bị thu hẹp; bảo đảm tính bền vững của môi trường; các sản phẩm sử dụng nguồn cung ứng mang tính bền vững. Top 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng Việt lần lượt là: Yếu tố có lợi cho sức khỏe (chiếm 77%); các sản phẩm hữu cơ, tự nhiên (chiếm 77%); niềm tin vào nhãn hàng (chiếm 75%); thân thiện với môi trường (chiếm 62%); có cam kết về giá trị xã hội (chiếm 61%). Đặc biệt, người tiêu dùng có nhu cầu được sử dụng các sản phẩm có cam kết bền vững rất lớn. Cụ thể, đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường thì tỷ lệ người tiêu dùng muốn có nhiều sản phẩm hơn trên thị trường đáp ứng yếu tố này chiếm 24%; đối với các sản phẩm có cam kết về giá trị xã hội chiếm 37%.

Kết quả nghiên cứu của Công ty Nielsen Việt Nam cũng cho thấy, các thương hiệu có cam kết “xanh” và “sạch” có mức tăng trưởng cao, khoảng 4%. Ví dụ, đối với ngành hàng thực phẩm và nước giải khát, mức tăng trưởng nhanh hơn so với toàn thị trường từ 2,5 - 11,4%.

Nhu cầu của người tiêu dùng đang tạo cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển thương hiệu “xanh”, “sạch” đang gặp nhiều khó khăn. Theo ông Vũ Xuân Trường, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (BCSI), khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp là mâu thuẫn trong 2 mục tiêu: Lợi nhuận và tạo ra sản phẩm dịch vụ xanh, sạch. Bởi, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm xanh và sạch đòi hỏi mất nhiều chi phí đầu tư và mục tiêu mang tính dài hạn, trong khi doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực vốn yếu. Ngoài ra, công nghệ xanh trên thế giới thì có rất nhiều, nhưng thực tế áp dụng ở Việt Nam còn hạn chế. Doanh nghiệp có thể được chuyển giao công nghệ xanh hiện đại nhưng đôi khi yếu tố con người, trình độ năng lực chưa theo kịp.


Ảnh: Nguyễn Quỳnh

Xây dựng lòng tin

Theo bà Đặng Thúy Hà, việc xây dựng thương hiệu gắn với yếu tố xanh, đưa ra các sản phẩm “sạch” ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Niềm tin vào nhãn hàng cần được xây dựng thông qua các cam kết về trách nhiệm xã hội và môi trường; doanh nghiệp luôn đặt vấn đề sức khỏe vào trọng tâm của phát triển sản phẩm và có chiến lược phát triển sản phẩm gắn liền với cam kết bền vững.

Ông Vũ Xuân Trường đưa ra lời khuyên: Các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải phân khúc các giai đoạn kinh doanh, dũng cảm chấp nhận lỗ trong giai đoạn đầu để giữ gìn hình ảnh, xây dựng thương hiệu.

Cũng tại hội thảo, chuyên gia cố vấn chương trình Thương hiệu Quốc gia PGS.TS. Nguyễn Quốc Thịnh đặt câu hỏi tại sao, người tiêu dùng vẫn chưa tìm đến các thương hiệu “xanh”? Có thể thấy, lý do quan trọng nhất là người tiêu dùng chưa tin vào những nhà cung ứng các thương hiệu đó. Vì vậy, theo ông Thịnh, hiệp hội hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm định chất lượng, chứng nhận đạt tiêu chuẩn và cung cấp nhãn xanh.

 Đại diện Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương cho biết, sẽ tiếp tục đẩy mạnh chương trình cấp Nhãn xanh Việt Nam. Bên cạnh đó, xây dựng tiêu chí cho các sản phẩm ưu tiên trên thị trường, nâng cao nhận thức về chương trình Nhãn xanh Việt Nam. Đặc biệt, thúc đẩy việc công nhận lẫn nhau giữa Nhãn xanh Việt Nam và chương trình nhãn sinh thái của các nước khác, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận, mở rộng thị trường.

Nguyễn Quỳnh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang