KINH TẾ
Cập nhật 20:31 | 23/06/2017 (GMT+7)
.
Nghị định 109 về kinh doanh xuất khẩu gạo - sửa thế nào?

Bài 2: Cần cơ chế xuất khẩu gạo mới

08:14 | 01/03/2017
Là người trực tiếp làm ra lúa gạo, ông Huỳnh Kim Hải, nông dân ở thị trấn Sa Rài, huyện Tân Hồng, Đồng Tháp đã “phác họa” bộ khung mới cho cơ chế xuất khẩu gạo với mong muốn lấy lại vị thế cho hạt gạo Việt Nam và nâng cao thu nhập chính đáng của mình.

>> Bài 1: 7 năm nhìn lại

Tại sao phải bỏ Nghị định 109?

Cơ chế xuất khẩu gạo theo Nghị định 109 có 3 nhược điểm lớn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) độc quyền mua bán lúa gạo của nông dân; để cho các nước nhập khẩu gạo chiếm quyền ấn định giá gạo xuất khẩu; khống chế mức lời nông dân tiệm cận 30% so với giá thành.

VFA có số lượng gạo xuất khẩu chiếm trên 90% tổng số lượng gạo xuất khẩu chung của cả nước và được Chính phủ giao toàn quyền mua bán lúa gạo của nông dân. Lợi nhuận đầu tấn của các doanh nghiệp trong VFA được tính theo công thức: giá bán gạo xuất khẩu trừ đi giá thu mua gạo trong nước và phí xuất khẩu. Lợi nhuận đầu tấn này không phụ thuộc vào giá gạo xuất khẩu mà chỉ phụ thuộc vào sự chênh lệch giá. Do đó, nếu ký bán gạo xuất khẩu giá thấp thì các doanh nghiệp sẽ ép giá mua lúa của nông dân và họ vẫn có lời. Vì ăn chênh lệch đầu tấn nên VFA không quan tâm đến việc nâng cao giá bán gạo xuất khẩu mà để cho các nước nhập khẩu gạo chiếm quyền ấn định giá bán gạo xuất khẩu để ép giá gạo Việt Nam. Điển hình là cuộc đấu giá ngày 31.8.2016 tại Philippines. Năm 2016 xuất khẩu gạo Việt Nam thất thủ, nhưng trong phương hướng năm 2017, VFA không tìm cách nâng cao giá gạo xuất khẩu, mà lại đề nghị mua tạm trữ của nông dân. VFA đấu thầu bán gạo giá rẻ, rồi về trong nước đề nghị Chính phủ cho mua lúa tạm trữ của nông dân với mức giá thấp, VFA đạt lợi nhuận đầu tấn còn nông dân ngày càng nghèo do giá lúa quá rẻ.


Ảnh: Hoàng Kim

Lấy lại quyền ấn định giá bán gạo

Để thiết lập cơ chế xuất khẩu gạo mới, cần xóa bỏ Nghị định 109 về kinh doanh xuất khẩu gạo, đồng thời hợp tác với Thái Lan lập liên minh xuất khẩu gạo để lấy lại quyền ấn định giá bán gạo xuất khẩu từ các nước nhập khẩu.

Từ năm 2001, Thái Lan đã đề nghị hợp tác xuất khẩu gạo với Việt Nam để chiếm lại quyền ấn định giá bán gạo xuất khẩu. Điều này được thể hiện rõ trong Công văn số 1106 TM/XNK ngày 7.5.2001 về việc hợp tác xuất khẩu gạo Việt Nam – Thái Lan do Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan trình Thủ tướng Chính phủ. Năm 2008, Thái Lan tiếp tục đề xuất thành lập Tổ chức các nước xuất khẩu gạo (OREC) để ấn định giá mặt hàng này. Nhóm này sẽ bao gồm một số nước như: Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Lào.
Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu dầu lửa (OPEC) có hơn 10 thành viên khai thác khoảng 40% sản lượng dầu của thế giới đang ấn định giá dầu thế giới. Trong khi đó Việt Nam và Thái Lan chiếm đến 45,4% tổng lượng gạo xuất khẩu thế giới (số liệu vào năm 2008), vậy chúng ta hoàn toàn có thể bắt tay với người Thái để hình thành liên minh song phương ấn định giá bán gạo xuất khẩu.

Cơ chế xuất khẩu gạo cho nông dân Việt Nam

Lấy lại được quyền ấn định giá bán gạo xuất khẩu, việc thiết lập cơ chế xuất khẩu gạo quan tâm đến quyền lợi nông dân rất dễ dàng. Điều đặc biệt của cơ chế xuất khẩu gạo mới là: giá lúa của nông dân sẽ căn cứ vào giá bán gạo xuất khẩu do Liên minh xuất khẩu gạo Việt Nam – Thái Lan ấn định. Cụ thể: Giá lúa của nông dân = Giá bán gạo xuất khẩu – ([chi phí + lợi nhuận của thương lái lúa] + [phí xay xát + phí tồn kho + phí xuất khẩu + lợi nhuận] của các doanh nghiệp trong và ngoài VFA).

Trong cơ chế mới này, Chính phủ sẽ trực tiếp điều hành việc mua bán lúa gạo của nông dân, điều này không khó thực hiện vì thương lái sẽ mua lúa từ nông dân để bán tận kho của Chính phủ. Hiện nay VFA cũng đang làm như vậy. Đây là cách mà Chính phủ Thái Lan thực hiện cho nông dân Thái Lan từ nhiều năm nay.

Giả sử cuối năm 2018 chúng ta đã xây dựng xong kho chứa được 8 triệu tấn lúa gạo. Trước vụ đông xuân 2019, Việt Nam và Thái Lan ấn định xong giá sàn bán gạo xuất khẩu. Khi nông dân thu hoạch lúa đông xuân 2019, Chính phủ mua lúa của nông dân theo mức giá quy từ giá sàn bán gạo xuất khẩu và cho vào kho. Nếu có hợp đồng với giá từ giá sàn trở lên thì ký bán và xuất khẩu gạo. Nếu các doanh nghiệp xuất khẩu gạo có hợp đồng xuất khẩu gạo thì Chính phủ tổ chức đấu giá bán gạo cho doanh nghiệp. Nếu giá gạo thị trường thấp, Chính phủ có thể mua luôn lúa vụ hè thu của nông dân cho vào kho để giữ giá, mà không cần phải xuất khẩu gạo với giá thấp. Như vậy, Việt Nam và Thái Lan có thể ngừng xuất khẩu gạo ra thị trường gạo thế giới khoảng một năm, còn các nước nhập khẩu gạo có thể không nhập khẩu gạo một năm hay không? Nếu cần giảm lượng lúa gạo nông dân có thể không làm vụ hè thu, vì hiện nay vụ hè thu năm lời ít, có năm lại lỗ.

Cũng cần phải nói rõ rằng: cơ chế xuất khẩu gạo mới là cơ chế ấn định giá bán gạo xuất khẩu và ấn định giá thu mua lúa cho nông dân, chứ chẳng phải là cơ chế trợ giá cho nông dân. Trong cơ chế này, VFA được trả lại đúng vị trí là những doanh nghiệp mua bán lúa gạo.

Với kinh nghiệm trực tiếp làm ra lúa gạo và mong ước lấy lại vị thế cho hạt gạo, nâng cao thu nhập chính đáng của mình, nông dân chúng tôi phác họa bộ khung hợp lý nhất như vậy cho cơ chế xuất khẩu gạo Việt Nam.

Điều kiện đủ để thiết lập cơ chế xuất khẩu gạo mới

Liên minh với Thái Lan là điều kiện cần để lấy lại quyền ấn định giá bán gạo xuất khẩu, còn điều kiện đủ là phải có đủ kho bãi để điều tiết xuất khẩu gạo. TS. Phan Văn Tấn, Phó giám đốc Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, bạn học Đại học Nông Lâm cùng tôi đề xuất chi phí đầu tư hệ thống kho chứa, máy xay xát... như sau:
Một silo sức chứa 10.000 tấn giá thành xây dựng 600.000 USD (silo là một dạng kết cấu bằng thép hay bê tông được sử dụng để bảo quản nông sản)
Hệ thống sấy có công suất 20-24 tấn/giờ 245.000 USD;
Dây chuyền chế biến gạo có công suất 10 - 12 tấn/giờ 355.000 USD.
Như vậy, một địa điểm được đầu tư hoàn thiện tốn 1,2 triệu USD, tức cần khoảng 480 triệu USD cho 400 địa điểm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Huỳnh Kim Hải
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang