Trong bối cảnh kinh tế nhiều nước trong khu vực Đông Á- được đánh giá là động lực tăng trưởng của kinh tế toàn cầu - bắt đầu chững lại, mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng xuất khẩu ít hiệu quả hơn trước, Ngân hàng Thế giới (WB) đã có Báo cáo cập nhật có tựa đề: “Nắm bắt các nguồn tăng trưởng mới”, đưa ra một số phân tích, nhận định về xu hướng phát triển của các nền kinh tế khu vực Đông Á trong ngắn hạn, cùng một số khuyến nghị chính sách. Theo đó, đối với Việt Nam, nguồn tăng trưởng mới sẽ bắt nguồn từ việc đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế.
|

Nguồn: viglacera-exim.vn
|
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, khu vực đang phát triển Đông Á - Thái Bình Dương đạt tỷ lệ tăng trưởng 8,2% trong năm 2011, đánh dấu sự suy giảm mạnh từ mức tăng trưởng gần 10% ghi nhận trong năm 2010. Dự báo kinh tế khu vực đang phát triển Đông Á sẽ tăng trưởng 7,6% trong năm 2012, cùng với sự phát triển chậm lại ở Trung Quốc. Hiện tượng tăng trưởng chậm lại này chủ yếu bắt nguồn từ mức tăng thấp hơn dự kiến của kim ngạch xuất khẩu trong khu vực sản xuất do nhu cầu của châu Âu giảm sút cũng như việc nguồn cung bị gián đoạn do hậu quả của động đất và sóng thần ở Nhật Bản, lũ lụt nghiêm trọng ở Thái Lan, Lào và Campuchia.
Hiện nay, nhu cầu của 27 quốc gia trong Liên minh châu Âu (EU) cùng với Mỹ và Nhật Bản chiếm hơn 40% trong tổng số các lô hàng xuất khẩu trực tiếp từ khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Và các ngân hàng Châu Âu cung cấp một phần ba lượng tài chính cho các hoạt động thương mại và dự án ở châu Á. Giai đoạn này, châu Âu khó khăn đương nhiên sẽ có những tác động tiêu cực tới thị trường xuất khẩu của các nước châu Á. Bởi vậy, WB khuyến nghị, trong bối cảnh nhu cầu từ các thị trường bên ngoài suy giảm và tiếp tục xu hướng giảm sút trong thời gian tới, khu vực đang phát triển Đông Á - Thái Bình Dương cần giảm phụ thuộc vào xuất khẩu và tăng cường nhu cầu trong nước để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng mục tiêu. Ở một số nền kinh tế châu Á, các Ngân hàng Trung ương bắt đầu có động thái nới lỏng chính sách tiền tệ.
Theo quan điểm của ông Deepak Mishra, Kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam, kinh tế Việt Nam có một số nét khác biệt so với nhiều nước trong khu vực. Quý I.2012, kinh tế Việt Nam giảm đà tăng trưởng, sức mua thị trường trong nước giảm mạnh, một số ngành đình đốn sản xuất, trong đó có xây dựng, bất động sản, nhưng thực tế trước đó những lĩnh vực này đã tăng quá nóng, do đầu tư quá nhiều. Điểm sáng của kinh tế Việt Nam vẫn là xuất khẩu. Bởi trong khi rất nhiều nước trong khu vực giảm mạnh kim ngạch xuất khẩu thì Việt Nam vẫn có mức tăng khá. Điều này góp phần bù đắp thâm hụt thương mại. Về chính sách, cần phải theo dõi mức độ lạm phát thêm vài tháng nữa, để có điều chỉnh phù hợp. Tăng trưởng năm nay phụ thuộc vào những tháng còn lại, để có thể đạt được mức tăng trưởng khoảng 5,7%.
Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Victoria Kwakwa khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả của Nghị quyết 11 của Chính phủ năm 2011, khi lạm phát đã được chặn lại. Nhưng với mục tiêu đặt ra về mức lạm phát của 2012 kiềm chế ở mức 1 con số, dưới 10% - vẫn còn là mức rất cao, nên bà khuyến nghị chưa thể từ bỏ chính sách “thắt chặt”. Tất nhiên, tác dụng phụ của liều thuốc thắt chặt tiền tệ, giảm đầu tư công là đã ảnh hưởng tới tăng trưởng. Theo bà Victoria Kwakwa, cần theo dõi cả hai mục tiêu tăng trưởng và quản lý thị trường tài chính, ổn định vĩ mô. Tìm cách cân bằng hai mục tiêu, và trong lúc này, ổn định là mục tiêu chính, chứ không phải là tăng trưởng. Vấn đề là tăng hiệu suất của nền kinh tế. Đây chính là một nguồn tăng trưởng mới. Và để tăng hiệu suất, không cách nào khác, là đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu.
Có thể thấy, các khuyến nghị của các chuyên gia kinh tế thế giới, cũng là những điều các nhà điều hành kinh tế của Việt Nam đã nhìn ra, đang thực hiện, đó là để tăng trưởng bền vững, nhìn về dài hạn, là tập trung cho tái cơ cấu nền kinh tế. Đây chính là động lực kích thích, tăng hiệu suất của cả nền kinh tế, là nguồn lực mới trong tăng trưởng, chứ không chỉ là những nguồn tài chính đổ thêm vào nền kinh tế.