
Nguồn: ITN
|
Theo thống kê đến ngày 1.1.2010, còn có hơn 20% DNNN quy mô nhỏ, hơn 32% DNNN quy mô vừa, và vẫn còn 102 DNNN có vốn dưới 5 tỷ đồng, có 8 DNNN vốn dưới 1 tỷ đồng, thậm chí có DNNN vốn chỉ 100 triệu đồng vẫn tồn tại. Hiệu quả của DNNN không cao hơn hẳn các doanh nghiệp khác, nhất là so với doanh nghiệp FDI. Nhiều tập đoàn, tổng công ty và DNNN đầu tư quá nóng, gây rủi ro lớn, thua lỗ kéo dài. Từ các dữ liệu cụ thể, cần tiếp tục xem xét, với hai câu hỏi nghiên cứu cụ thể, cần được tiếp tục đào sâu:
Một là, DNNN có thể giữ vai trò chủ đạo khi quy mô giảm sút nghiêm trọng (theo điều tra DN): thu hút lao động giảm: từ 60% năm 2000 nay còn 20% năm 2008? TSCĐ và đầu tư dài hạn giảm: từ 56% năm 2000 xuống còn 43% năm 2008? Doanh thu thuần giảm: từ mức 55% (năm 2000) xuống còn 25% (năm 2008)? Nộp ngân sách ngày càng giảm: từ 51% năm 2000 và năm 2008 chỉ còn 28%?
Hai là, DNNN có thể nào giữ vai trò làm gương khi đã được trao nhiều ưu thế, nhưng các chỉ tiêu hiệu quả đều giảm sút như tăng doanh thu chậm: DNNN tăng chưa tới 15%/năm, trong khi DN ngoài nhà nước tăng 35%/năm; nộp ngân sách tăng chậm: DNNN tăng 12,7%, trong khi DN ngoài nhà nước tăng 27,5% và tỷ lệ nộp ngân sách so TSCĐ và đầu tư dài hạn tăng kém: năm 2008 DNNN là 7,2%, trong khi khu vực tư nhân là 14,2%.
Vì vậy, để đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước cần làm rõ cơ chế giám sát các DNNN về các nguyên tắc chính là:
Nâng cao chất lượng quản lý của cấp trên DNNN, nhất là quản lý vốn và tài sản. Cần giảm số lượng DNNN để các DNNN chỉ tập trung làm các lĩnh vực ưu tiên, dù công ích hay kinh doanh. Cần củng cố đơn vị quản lý vốn DNNN, thực hiện giám sát chặt chẽ của cấp trên DNNN gần với cơ chế thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh. Đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để thúc đẩy năng suất, chất lượng, hiệu quả của doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng. Tiến hành xếp hạng cạnh tranh DNNN, trong điều kiện công khai và minh bạch hóa thông tin về hoạt động của các DNNN. Không mở thêm các tập đoàn kinh tế, tăng cường các công cụ tài chính, công nghệ… nâng cao chất lượng của DNNN.
Tăng cường quản trị nội bộ DNNN theo phong cách quản trị hiện đại, thích hợp với chuẩn mực quốc tế, trong đó đổi mới công nghệ và ứng dụng các công cụ quản lý hiện đại. Đánh giá xếp hạng DNNN; ngày càng bớt dần các ưu đãi, ưu tiên. Vận dụng các nguyên tắc quản trị tiên tiến đối với DNNN, xác định rõ quy chế quản lý nội bộ và vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, thuê Tổng giám đốc có tầm nhìn chiến lược, DNNN tham gia ngày càng nhiều vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu…
Tăng cường dân chủ cơ sở, nhất là vai trò của công đoàn và các đoàn thể quần chúng và từng người lao động, khai thác hết giá trị tài sản vật chất đã được trang bị, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và tăng cường kỹ năng quản lý hiện đại. Nhờ đó, người dân cũng được thụ hưởng các dịch vụ có chất lượng cao và cả đất nước có thể hưởng lợi từ hiệu quả DNNN.
Công khai, minh bạch công bố thông tin hoạt động của DNNN, từng bước nâng lên thông tin như công khai trên thị trường chứng khoán. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng để tạo ra sơ hở cho tình trạng tham nhũng thườâng có dưới những hình thức khác nhau.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của nhân dân. Cần tăng cường cơ chế giám sát chéo của cộng đồng, nhất là Mặt trận Tổ quốc và Liên hiệp các Hội KH và KT Việt Nam, kể cả Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam trong các dự án, chương trình và thẩm định chất lượng hoạt động các DNNN.
Muốn vậy, cần thực hiện hệ thống các giải pháp:
Sắp xếp các DNNN: đây là các doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước nắm giữ 100% vốn đến trên 65% vốn. Tập trung nâng cao năng lực của DNNN trong các lĩnh vực huyết mạch của nền kinh tế như dầu khí, hóa dầu, điện nước, công ích thiết yếu, công nghiệp quốc phòng, an ninh quốc gia v.v… Duy trì tỷ trọng hợp lý của các DNNN trong một số khâu, công đoạn then chốt của các ngành khai khoáng, chế biến cao su, hàng không, viễn thông, hàng hải, đường sắt, tài chính tín dụng, bán buôn lương thực v.v… Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối để nắm chắc các tập đoàn kinh tế quan trọng nhất, nhưng quản lý theo nguyên tắc thị trường để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
Đổi mới quản trị DNNN: tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý Nhà nước để đổi mới quản trị DNNN. Bên cạnh việc thực hiện chức năng chủ sở hữu, còn các cơ quan, tùy theo chức năng sẽ quản lý về công nghệ, thương mại, thuế vụ, hải quan v.v… như với mọi doanh nghiệp. Tùy thuộc từng loại hình DNNN cần có những chỉ tiêu về tài chính, trình độ công nghệ (technology) và đổi mới công nghệ (innovation), thị phần của DNNN. Coi đổi mới công nghệ là thước đo cao nhất của hiệu quả hoạt động, tạo nên sức cạnh tranh dài hạn. Sửa đổi chế độ tiền lương, thưởng và các lợi ích tương xứng với mức độ hoàn thành nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của DNNN.
Đổi mới cơ chế quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN: xây dựng khung thể chế quản lý và giám sát hoạt động DNNN trong điều kiện có các tập đoàn lớn, các công ty đã chuyển sang công ty cổ phần, công ty TNHH theo Luật doanh nghiệp. Thiết lập hệ thống thông tin minh bạch và được giám sát như các công ty có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhằm phát huy vốn đã được cấp và các lợi thế đã được trao.
Đặt các DNNN vào môi trường cạnh tranh thống nhất trong điều kiện đổi mới và hội nhập. Lâu dài phải cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt sở hữu. Tiến hành thi tuyển các chức danh để nâng cao hiệu quả hoạt động. Hình thành các tổ chức của Nhà nước và cả của xã hội dân sự để tham gia giám sát.
Chỉ tiêu giám sát DNNN
Chỉ tiêu so sánh đầu vào – đầu ra của DNNN: lao động, vốn, TSCĐ và đầu tư tài chính dài hạn, bằng phát minh, bí quyết công nghệ… và kết quả sản xuất kinh doanh (sản phẩm, dịch vụ, lợi nhuận…). Từ các số liệu trong một thời kỳ, có thể thấy được mối quan hệ đầu vào - đầu ra của cả khu vực kinh tế này và của từng nhóm DNNN trong một thời gian dài. Xem xét vấn đề dùng DNNN làm công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Nguyên nhân của tình trạng năng lực cạnh tranh thấp có phần do nhận thức, cũng phần lớn do sai sót trong quy hoạch, kế hoạch và trong điều hành cụ thể.
Chỉ tiêu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh như: năng suất lao động (theo giá so sánh và giá thực tế), tiền lương bình quân; tỷ suất lợi nhuận tinh trên vốn SXKD; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu v.v... Làm nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội trên cơ sở nhiệm vụ Nhà nước giao, và được tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, hỗ trợ hợp lý để nâng cao hiệu quả, có những đóng góp ngày càng xứng đáng với vị thế của các DNNN.
Vị thế trong ngành, trong nước và trong so sánh với cùng ngành ở nước ngoài (xếp hạng doanh nghiệp). Việc xếp hạng cạnh tranh, xếp hạng các chỉ tiêu của DNNN cùng các doanh nghiệp khác sẽ là nguồn kích thích nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ trong thời đại toàn cầu hóa.
Các chỉ tiêu đặc thù của DNNN
Doanh nghiệp dịch vụ công ích (phi lợi nhuận): đây là một số ít DNNN đặc thù, như in tiền, sản xuất vàng miếng, một số doanh nghiệp trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, môi trường và dịch vụ đô thị. Các doanh nghiệp này cũng từng bước xã hội hóa, trừ những lĩnh vực đặc thù.
Doanh nghiệp tiên phong, mở đường trong những lĩnh vực then chốt, chiếm cao điểm của nền kinh tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và ngành. Từ đó, có khả năng đạt hiệu quả cao, lợi nhuận cao ở các bước tiếp theo.
Doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường nhưng nắm giữ những lĩnh vực then chốt, như các doanh nghiệp trong xây dựng, thủy lợi, giao thông vận tải…
Mỗi loại doanh nghiệp phải có hệ thống tiêu chí riêng để giám sát và đánh giá hoạt động. Với doanh nghiệp tiên phong thì chỉ tiêu đổi mới công nghệ, tác động lan tỏa đối với các ngành khác là quan trọng. Còn đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực then chốt thì chỉ tiêu giám sát chính là hiệu quả đầu ra.