KINH TẾ
Cập nhật 15:15 | 25/07/2014 (GMT+7)
.
Sổ tay phóng viên

Thế nào là vốn nhà nước?

07:16 | 18/06/2011
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, tính đến ngày 15.2.2011, quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được xác định là 540.701 tỷ đồng (tăng 11,75% so với năm 2009).

Hiện các doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ khối tài sản quốc gia rất lớn: 70% tổng tài sản cố định, 20% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư của Nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng và 70% nguồn vốn viện trợ nước ngoài (ODA)... Tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp nhà nước là 70.778 tỷ đồng. Như vậy, tỷ lệ lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng thương mại trong năm 2010.

Dù thực hiện tới hơn 50% vốn đầu tư của Nhà nước, nhưng do nhiều quy định chưa rõ nên cách rót vốn của các doanh nghiệp nhà nước đã gây ra nhiều tranh luận.
Cụ thể, tại khoản 10, Điều 3, Luật Đầu tư quy định: vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư khác của nhà nước.

Tại khoản 1, Điều 4 Luật Đấu thầu quy định: vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý.

Còn theo quy định tại khoản 3, Điều 2, Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ban hành kèm theo Nghị định số 09/2009/NĐ - CP ngày 5.2.2009 của Chính phủ thì: vốn do Nhà nước đầu tư tại công ty nhà nước là vốn cấp trực tiếp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho công ty nhà nước khi thành lập, trong quá trình hoạt động kinh doanh; vốn nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; giá trị các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng; tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê công ty nhà nước được hạch toán tăng vốn nhà nước tại công ty nhà nước; vốn bổ sung từ lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng đất và các khoản khác được tính vào vốn nhà nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn một số quyền của nhà nước khi nhà nước giao các quyền này cho doanh nghiệp khai thác, sử dụng như: quyền khai thác mạng viễn thông, quyền khai thác tài nguyên khoáng sản cũng tạo nên giá trị của doanh nghiệp hoặc giá trị góp vốn vào doanh nghiệp khác; giá trị góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Để khắc phục tình trạng loạn khái niệm vốn nhà nước, Chính phủ đang giao Bộ Tài chính soạn thảo dự thảo Nghị định về Quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo ban soạn thảo, với các khái niệm vốn nhà nước khác nhau nêu trên sẽ khó khăn trong công tác xây dựng Nghị định. Vì nếu quy định vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư khác của nhà nước cũng được coi là vốn nhà nước thì phạm vi của Nghị định không chỉ bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu, các doanh nghiệp có vốn nhà nước góp, mà còn cả những doanh nghiệp tư nhân có sử dụng vốn tín dụng, các Ban quản lý dự án sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.

Hải Dương
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang