XÃ HỘI
Cập nhật 20:16 | 18/09/2019 (GMT+7)
.

Xây dựng môi trường khuyến khích làm việc

08:13 | 27/05/2019
Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam NGUYỄN ANH TUẤN cho rằng, tay nghề của lao động Việt Nam không kém nhưng khả năng quản trị của doanh nghiệp chưa cao, dẫn đến năng suất lao động kém. Vì vậy doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng môi trường khuyến khích làm việc để người lao động chủ động nâng cao năng suất của mình, qua đó cải thiện năng suất lao động của doanh nghiệp.

Năng suất thấp do chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm

- Những năm gần đây nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng năng suất lao động lại không cải thiện như mong muốn. 25 năm qua, năng suất lao động chỉ tăng chưa tới 3 lần và hiện thấp hơn rất nhiều so với các nước khác. Vì sao lại vậy, thưa ông?

- Năng suất lao động còn thấp là do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Ngành công nghiệp dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp. Lao động trong khu vực nông nghiệp còn lớn, trong khi năng suất lao động ngành nông nghiệp thấp, máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dân doanh đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới. Có đến 76% thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ nhập từ nước ngoài thuộc thế hệ những năm 1960 - 1970.


Hơn nữa, quy mô doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé, số doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước. Số lượng doanh nghiệp lớn rất ít nên chưa xâm nhập được vào các thị trường, trung tâm công nghệ của thế giới, vì thế chưa thực hiện được chức năng cầu nối về công nghệ của thế giới vào thị trường trong nước.

- Sự phát triển của xã hội đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng, nguồn lao động giá rẻ không còn được coi là lợi thế nữa, ông đánh giá về nhận định này thế nào?

- Năng lực cạnh tranh của một ngành hoặc một doanh nghiệp bị chi phối bởi khả năng sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ với chi phí lao động hợp lý nhất theo công thức: Khả năng cạnh tranh về chi phí lao động bằng giá trị gia tăng chia cho chi phí lao động. Như vậy, quản lý chi phí lao động ở mức độ hợp lý, hài hòa lợi ích của doanh nghiệp và người lao động là hướng cần thiết để duy trì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành kinh tế.

Thế nhưng, người lao động luôn mong muốn có thu nhập cao hơn, còn doanh nghiệp thường không muốn tăng chi phí trả lương cho người lao động. Vấn đề này sẽ được quyết định bởi tình hình thị trường lao động, chất lượng lao động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, lao động giá rẻ chỉ là lợi thế của giai đoạn phát triển ban đầu. Khi nền kinh tế phát triển tạo đủ công ăn việc làm, công việc đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn thì nguồn lao động giá rẻ sẽ không còn phù hợp.

Tay nghề của lao động không kém

- Theo ông, mỗi doanh nghiệp cần phải làm gì để tăng năng suất lao động?

- Trước hết, doanh nghiệp cần chú trọng áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nâng cao khả năng quản lý trong việc thúc đẩy năng lực của người lao động. Chú trọng xây dựng môi trường làm việc để người lao động chủ động nâng cao năng suất, từng bước cải thiện năng suất lao động của doanh nghiệp qua từng năm. Hơn nữa, cần phải trao quyền tự chủ để người lao động tự nâng cao năng lực, chủ động tìm hiểu và khai thác khả năng của họ trong tiến trình nâng cao năng suất lao động trong thời gian tới.

Phải nhấn mạnh rằng, tay nghề của lao động Việt Nam không kém nhưng khả năng quản trị của doanh nghiệp chúng ta chưa cao, dẫn đến năng suất lao động kém. Cũng người lao động ấy nhưng khi sang làm ở khu vực nước ngoài thì được họ đánh giá tốt. Như vậy rõ ràng môi trường khuyến khích bao gồm lương, thưởng, chế độ phúc lợi của doanh nghiệp Việt chưa thích hợp.

Yếu tố quan trọng nữa là vấn đề về thị trường. Sản phẩm của doanh nghiệp không có đầu ra ổn định, làm ra không bán được thì giá trị tăng thêm không thể cao.

- Theo ông, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ các quốc gia trong việc tăng năng suất quốc gia?

- Năm 1955, Chính phủ Nhật Bản thành lập Trung tâm Năng suất quốc gia Nhật Bản (JPC). Qua hơn 60 năm hoạt động, phong trào năng suất quốc gia đã góp phần quan trọng cho sự phát triển và thành công của nền kinh tế của nước này với một số thành tựu nổi bật như: Mối quan hệ giữa nhà quản lý và người lao động được cải thiện một cách căn bản; tinh thần quản lý được thay đổi đáng kể, nhấn mạnh việc đánh giá và huy động sự cống hiến của người lao động là quan trọng nhất; tầm quan trọng của việc tăng cường và bảo đảm chế độ tuyển dụng dài hạn, đào tạo và phát triển lâu dài nguồn nhân lực đã được ý thức và chấp nhận rộng rãi…

Tại Singapore, năm 1981, người đứng đầu đất nước này đã gặp các lãnh đạo doanh nghiệp Nhật Bản tại Singapore để tìm hiểu về kỹ năng, thái độ của người lao động trong công việc và những thực hành cải tiến năng suất của Nhật Bản. Sau đó, đã quyết định thành lập Ủy ban Năng suất và quyết định phát động phong trào năng suất quốc gia hướng vào nâng cao phúc lợi của người dân thông qua phát triển kinh tế dựa trên 3 nguyên tắc chủ đạo là: Cải tiến năng suất sẽ giúp tăng việc làm trong dài hạn; Chính phủ, chủ doanh nghiệp và người lao động phải cùng nhau thực hiện các biện pháp để nâng cao năng suất; thành quả cải tiến năng suất phải được phân bổ công bằng cho giới quản lý, người lao động và người tiêu dùng.

Singapore đã đưa hơn 400 cán bộ sang đào tạo dài hạn về cải tiến năng suất tại Nhật để trở thành các chuyên gia nòng cốt trong phong trào năng suất và tham gia các chương trình cải tiến năng suất trong doanh nghiệp. Sau 3 thập kỷ thực hiện phong trào năng suất quốc gia, GDP của Singapore đã tăng từ 43,6 tỷ USD lên trên 300 tỷ USD vào năm 2011, trong đó GDP bình quân đầu người đạt 50.000 USD và năng suất lao động của Singapore hiện đang cao gấp 15 lần năng suất lao động của Việt Nam.

Từ kinh nghiệm phát triển năng suất quốc gia của Nhật Bản, Singapore, để nâng cao năng suất quốc gia Việt Nam cần tạo nhận thức, tư duy về năng suất đúng đắn của lãnh đạo các cấp, chủ doanh nghiệp, người lao động doanh nghiệp, trong đó, người lao động là trọng tâm trong chiến lược nâng cao năng suất quốc gia. Tuy nhiên, vai trò tạo dựng nền tảng, thúc đẩy, hỗ trợ của Nhà nước rất quan trọng như phát triển phong trào, phát triển nguồn nhân lực, phát triển giải pháp, tôn vinh, khen thưởng... Nếu có chương trình hỗ trợ kỹ thuật từ các quốc gia thành công sẽ giúp Việt Nam xác định và thực hiện các chương trình nâng cao năng suất nhanh và hiệu quả hơn.

- Xin cảm ơn ông!

An Thiện thực hiện
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
10:49 17/09/2019
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai tiến hành chi trả lương cho hơn 1.900 công nhân có chủ doanh nghiệp người Hàn Quốc bỏ trốn để lại khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội hàng chục tỷ đồng vào thời điểm Tết Nguyên đán 2018.
Quay trở lại đầu trang