XÃ HỘI
Cập nhật 16:18 | 20/06/2019 (GMT+7)
.
Chính sách giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Gắn mục tiêu với nguồn lực

07:33 | 13/01/2019
Bàn về chính sách giảm nghèo, đại diện Vụ Chính sách dân tộc, Ủy ban Dân tộc cho biết, nguồn lực của Chính phủ là có hạn, nếu trong giai đoạn tới, chính sách không có mục tiêu rõ ràng và phù hợp, nguồn lực thực hiện chính sách không đủ mạnh, quá trình thực hiện chính sách không đồng bộ, sẽ vừa lãng phí nguồn lực vừa không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Theo đánh giá của cộng đồng quốc tế, Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có thành tựu ấn tượng nhất trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo. Sau 3 thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm rất nhanh. Số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng cho thấy, tính đến ngày 31.12.2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước chỉ còn 5,97% (tương ứng với 1,422 triệu hộ). Đây là kết quả hết sức ấn tượng khi so với tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 1993 là 58%, năm 1998 là 37,4%, năm 2008 là 14,5% và năm 2013 là 7,8%. Như vậy, có thể thấy, 3 thập kỷ qua, hơn 1/3 dân số nước ta đã thoát nghèo. Để có được những thành tựu ấn tượng đó, phải kể đến sự thành công của việc nghiên cứu, ban hành và thực thi các chính sách giảm nghèo. Tuy nhiên, công tác giảm nghèo của nước ta, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế. Kinh tế - xã hội ở các địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫn trong tình trạng chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn thấp. Thoát nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao. Đây chính là một trong những nguyên nhân năm 2019, UBTVQH sẽ giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2012 - 2018.

Theo ông Nguyễn Đình Chính, Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ NN - PTNT, thực hiện mục tiêu giảm nghèo và thoát nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ chiến lược. Trong đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là điều kiện tiên quyết. Việc hạn chế tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số chính là tiền đề đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo điều kiện để người nghèo thực sự được thụ hưởng các thành quả tăng trưởng kinh tế tạo ra. Do đó, Chính phủ cần rà soát điều chỉnh quy hoạch ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng phát huy lợi thế của từng địa phương để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là các sản phẩm đặc sản. Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số bằng cách hình thành kinh tế hợp tác xã để giúp nông dân. Hỗ trợ sinh kế cho người nghèo cần tập trung vào các nội dung như hỗ trợ về đất sản xuất, hỗ trợ người nghèo tiếp cận thuận lợi chính sách tín dụng ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa hoặc chuyển đổi sinh kế từ sản xuất nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp.

Rất tiếc là hiện nay, hệ thống các chính sách về giảm nghèo chưa có chính sách phân vùng để phát triển sản xuất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Chưa có chính sách kết nối sản phẩm của vùng dân tộc thiểu số với thị trường. Nguồn lực thực hiện chính sách không đủ, bố trí ngân sách thực hiện chính sách còn dàn trải. Cách thức tổ chức thực hiện thiếu xuyên suốt. Cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ chưa tạo động lực cho hộ nghèo thoát nghèo - ông Nguyễn Đình Chính nhấn mạnh.

Bám sát nguyện vọng của người dân

Muốn thoát nghèo nhanh và bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn tới, ông Nguyễn Đình Chính khuyến nghị, cần có một chính sách chuyên biệt về phát triển KT - XH ở vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện đổi mới quy trình xây dựng thực hiện chính sách theo cả hai hướng từ trên xuống và từ dưới lên để bảo đảm đáp ứng được mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ nhưng lại bám sát được nguyện vọng của người dân, hạn chế tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Việc triển khai thực hiện chính sách phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan triển khai thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách. Người dân chủ động dưới sự hướng dẫn của cơ quan chức năng triển khai thực hiện chính sách. Hoàn thiện cơ chế trao đổi, phản hồi chính sách để kịp thời bổ sung, sửa đổi chính sách cho phù hợp với thực tế và triển khai chính sách đạt hiệu quả cao nhất.

Bên cạnh đó, cần tạo ra nhiều việc làm mới cho người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số. Đây còn là giải pháp góp phần hạn chế tình trạng di cư lao động từ vùng sân tộc thiểu số đến khu vực thành thị. Để tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số nên có chính sách đặc thù với động lực mạnh thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số. Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi thành phần kinh tế khai thác các tiềm năng kinh tế vùng dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh công tác đào tạo dạy nghề cho người lao động là dân tộc thiểu số, đặc biệt là trong các hộ nghèo, cận nghèo để họ có thể tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp do mình tự tạo hoặc trở thành công nhân đóng tại địa bàn.

Đại diện Vụ Chính sách dân tộc, Ủy ban Dân tộc lưu ý thêm, ai cũng hiểu nguồn lực của Chính phủ là có hạn, nhưng vùng dân tộc thiểu số, người đồng bào dân tộc thiểu số lại sống trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ thứ. Nếu trong giai đoạn tới,chính sách không có mục tiêu rõ ràng và phù hợp, nguồn lực thực hiện chính sách không đủ mạnh, quá trình thực hiện chính sách không đồng bộ, thì chúng ta vừa lãng phí nguồn lực lại không mang lại hiệu quả như mong muốn. Vấn đề cấp bách là điều chỉnh hệ thống tổ chức, cơ chế thực hiện chính sách phù hợp hơn với thực tế vùng dân tộc thiểu số để nâng cao hiệu quả, phát huy nội lực, ý thức tự lực, tự cường của người dân tộc thiểu số.

Ý Nhi
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
22:14 16/12/2018
Ngày 16.12, tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức “Ngày Hội khởi nghiệp quốc gia của học sinh, sinh viên năm 2018”. Tham dự lễ khai mạc có Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ, cùng đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương.
Quay trở lại đầu trang