XÃ HỘI
Cập nhật 09:27 | 23/07/2018 (GMT+7)
.
Lũ quét, sạt lở đất

Cảnh báo, dự báo còn hạn chế

06:28 | 10/07/2018
Tại Hội thảo khoa học Giải pháp công nghệ trong phòng, chống lũ quét, sạt lở đất diễn ra sáng 9.7, các chuyên gia nhận định, việc ứng phó với hiện tượng lũ quét, sạt lở đất còn gặp rất nhiều khó khăn, công tác dự báo, cảnh báo còn hạn chế.

Hệ thống cảnh báo chưa đầy đủ

Theo Tổng cục Phòng, chống thiên tai, trong vòng 9 năm, từ 2008 - 2017, trung bình mỗi năm, cả nước xảy ra 15 - 20 trận lũ quét, sạt lở đất khiến tổng số 910 người chết và mất tích, bình quân gần 51 người chết và mất tích mỗi năm.

Kết quả điều tra, đánh giá được thực hiện mới đây của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia cũng chỉ ra, cả nước hiện có tới 1.700 xã có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, tập trung chủ yếu tại 4 khu vực Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Trong đó, 500 xã có nguy cơ cao và rất cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất. Nửa đầu năm 2018 đã xảy ra một trận lũ quét và sạt lở đất khiến 33 người chết và mất tích (chủ yếu tại Lai Châu, Hà Giang), thiệt hại về tài sản ước tính 535 tỷ đồng. Nguyên nhân của lũ quét, sạt lở đất được Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia Đặng Thanh Mai chỉ ra là do độ dốc lớn về địa hình của khu vực đi liền với diễn biến mưa lớn phức tạp và sự suy giảm độ che phủ rừng, thảm thực vật. Đặc biệt là các tác động của con người, trong đó trọng tâm là chặt phá rừng và xây dựng các hồ chứa, đập thủy điện…


Ảnh: Hoàng Thành

Đặc biệt, theo Tổng Cục trưởng Tổng Cục phòng chống thiên tai Trần Quang Hoài, thực tiễn xảy ra cho thấy, việc ứng phó với hiện tượng lũ quét, sạt lở đất còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, công tác dự báo, cảnh báo hay việc áp dụng các giải pháp công trình giảm nhẹ rủi ro do lũ quét, sạt lở đất còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Các bản đồ cảnh báo lũ quét, sạt lở đất hiện nay không cảnh báo được cho phạm vi hẹp và đối tượng trực tiếp chịu thiệt hại như xã, thôn, bản; chưa cảnh báo được theo thời gian thực và địa điểm xảy ra thiên tai. Mặt khác, hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm cho các điểm có nguy cơ lũ quét, sạt lở chưa có hoặc chỉ có cảnh báo dựa trên lượng mưa và mực nước sông, không phù hợp với thiên tai sạt lở đất, lũ bùn đá ở vùng sinh lũ. Hệ thống thông tin truyền thông còn hết sức hạn chế.

Thực tế tại Yên Bái - một trong những tỉnh chịu nhiều thiệt hại từ mưa lũ - với diện tích toàn tỉnh là 6.886,3km2 nhưng hiện không có mạng lưới trạm quan trắc đo mưa tại các khu vực vùng núi, thượng nguồn sông suối, nơi hình thành lũ quét, sạt lở đất đủ “dày” và đo đạc truyền tin tự động hóa để có thể phản ánh được chính xác lượng mưa theo không gian, thời gian, kèm theo đó là hệ thống các công trình phòng chống, giảm nhẹ thiên tai. Cùng với đó, do hạn chế về khoa học kỹ thuật, các mô hình dự báo mưa hiện nay chưa cho phép dự báo chi tiết, cụ thể và có độ chính xác cao ở từng khu vực nhỏ, đặ biệt là vùng núi bị ảnh hưởng chia cắt của địa hình. Thêm vào đó, do biến đổi khí hậu, các hiện tượng mưa bất thường, cực đoan gia tăng, các đợt mưa lớn cục bộ ngày càng xuất hiện tại nhiều nơi nhưng chưa có khả năng dự báo, cảnh báo trước. Đây là những khó khăn, thách thức đối với tỉnh miền núi nghèo như Yên Bái trong công tác dự báo và cảnh báo sớm lũ quét cho nhân dân.

Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ

Trước tình trạng sạt lở đang diễn ra nghiêm trọng tại nhiều địa phương, gây thiệt hại to lớn về người và tài sản, các chuyên gia cho rằng, việc xác định và triển khai ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác cảnh báo, dự báo, xây dựng công trình giảm nhẹ rủi ro do thiên tai là nhiệm vụ hết sức cấp bách và có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tại Việt Nam, thống kê chưa đầy đủ trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, đã có khoảng 60 dự án, đề tài điều tra, khảo sát nghiên cứu về lũ quét, sạt lở đất. Nhiều đề tài đã cho thấy hiệu quả tích cực, tuy nhiên, việc giảm nhẹ rủi ro do loại hình thiên tai trên gây ra vẫn còn là thách thức lớn đối với Việt Nam. Nguyên nhân được xác định là do trình độ khoa học công nghệ trong lĩnh vực này của nước ta còn nhiều hạn chế khiến độ chính xác của cảnh báo sớm chưa cao.

Để giảm nhẹ ảnh hưởng của lũ quét, sạt lở đất, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai Trần Quang Hoài kiến nghị, cần lắp đặt các thiết bị cảnh báo lũ quét phù hợp trên các sông suối, hướng dẫn nhân dân cách nhận biết sự biến đổi của dòng nước trước khi xuất hiện lũ quét. Đồng thời xây dựng bộ tài liệu truyền thông và tăng cường năng lực trong công tác phòng chống thiên tai để nâng cao ý thức cộng đồng trong các hoạt động kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, để khắc phục thiệt hại về người và tài sản do thiên tai, đòi hỏi các cơ quan chức năng phối hợp địa phương đổi mới công tác phòng, chống một cách thiết thực, hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác dự báo tình hình mưa bão, lũ ống, lũ quét trên địa bàn, nhất là dự báo ngắn, dự báo theo vùng một cách chính xác, kịp thời.

Trước thực tế này, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia Đặng Thanh Mai cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai nhiều kế hoạch đồng bộ theo chiến lược từ ngắn hạn đến dài hạn nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm lũ quét, sạt lở đất như tăng mật độ mạng lưới trạm đo mưa tự động, lắp đặt rada tại vùng có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở đất. Đặc biệt, cuối năm 2018, trạm rada tại Pha Đin sẽ đi vào hoạt động giúp nâng cao khả năng dự báo mưa lớn, cục bộ và cảnh báo lũ quét, sạt lở đất khu vực Tây Bắc. Bên cạnh đó, đồng bộ hóa việc thu nhận, xử lý, lưu trữ và truyền tin các loại số liệu đo đạc tự động (mưa, mực nước, các yếu tố khí tượng, thủy văn khác) với số liệu vệ tinh, rada thời tiết, đầu tư công nghệ hiện đại, tự động cho phép tích hợp các số liệu mưa tự động, rada, vệ tinh cùng với sự đầu tư đồng bộ các thiết bị đo đạc tự động, viễn thám theo công nghệ mới. Thiết lập các hệ thống tự động cảnh báo lũ quét, sạt lở đất các vùng có nguy cơ cao, kết hợp với nâng cao ý thức, tập huấn cho cộng đồng dân cư khu vực có nguy cơ cao. Xây dựng hệ thống cập nhật đồng hóa số liệu quan trắc của Việt Nam để tăng cường chất lượng dự báo mưa chi tiết định lượng từ các mô hình thời tiết cho qui trình nghiệp vụ dự báo và cảnh báo lũ, lũ quét và sạt lở đất.

Cũng theo bà Mai, hiện nay, phần mềm cảnh báo lũ quét cho Việt Nam với công nghệ hiện đại đã được xây dựng và ứng dụng tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu. Đây là là kết quả hợp tác giữa Trung tâm nghiên cứu thủy văn Mỹ (HRC) với Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, hỗ trợ cảnh báo sớm lũ quét 1, 3, 6, 12 giờ tới cho các tiểu lưu vực nhỏ có diện tích từ 10 - 30km2, cung cấp gián tiếp thông tin cho các dự báo viên và các nhà quản lý nhận định các khu vực có khả năng xảy ra lũ quét cao thông qua 2 sản phẩm là Ngưỡng sinh lũ quét (FFG) và Nguy cơ sinh lũ quét (FFT). Kết quả cảnh báo khả năng xảy ra lũ quét được thể hiện dưới dạng bản đồ và bảng thống kê cho toàn Việt Nam với các mức cảnh báo khác nhau sẽ giúp công tác dự báo, cảnh báo phòng, chống thiên tai trở nên nhanh chóng, kịp thời.

NGUYỄN THỦY
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang