XÃ HỘI
Cập nhật 22:09 | 16/08/2018 (GMT+7)
.
Sổ tay

Minh bạch và lợi ích

09:02 | 11/06/2018
Sau 5 năm nỗ lực triển khai với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế, đến nay Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã thiết kế được hệ thống truy cứu thông tin dữ liệu về rừng Việt Nam hoàn chỉnh và hiện đại. Bộ dữ liệu không chỉ phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng chiến lược lâm nghiệp, mà trong tương lai còn có lợi cho công tác nghiên cứu khoa học, lịch sử quá trình phát triển rừng.

Không chỉ có khối lượng thông tin đồ sộ về tài nguyên rừng từ diện tích, hiện trạng, loại rừng của 60 tỉnh, thành phố, khoảng 550 huyện, 6.427 xã; 1,1 triệu chủ rừng với 7,1 triệu lô rừng, bộ dữ liệu này còn có số liệu cơ bản về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, những người sống gần rừng.

Trước đây việc kiểm kê thực trạng rừng Việt Nam chủ yếu do Tổng cục Thống kê thực hiện. Bởi không thể thực hiện thường xuyên và đa phần theo phương pháp thủ công nên số liệu về hiện trạng rừng thường muộn, không đầy đủ, có thể là không chính xác. Đến nay, với số liệu được cập nhật mọi lúc, mọi nơi thông qua cổng dữ liệu này, tất cả các trạm kiểm lâm, hộ gia đình, lâm trường, doanh nghiệp đều có thể truy cập nhật thông tin mới nhất về rừng.

Thông qua địa chỉ trang web http://maps.vnforest.gov.vn/vn, tất cả mọi người đều có thể truy cập và kiểm tra đầy đủ thông tin về từng mảnh rừng của từng hộ nông dân, lâm trường, doanh nghiệp đang sở hữu và quản lý với nhiều hình thức, hình thái bản đồ ảnh vệ tinh, bản đồ địa hình nổi, bản đồ độ che phủ. Nếu tra cứu trên bản đồ vệ tinh, người truy cập có thể tiếp cận dữ liệu rừng đến  từng gia đình chủ rừng, được nhìn bản đồ khu rừng của từng hộ nông dân đã được giao rừng, trên đó sẽ có số liệu về diện tích rừng, hiện trạng rừng, đất rừng đó đã được cấp sổ đỏ hay chưa, nội dung trong sổ đỏ của từng hộ. Hay có thể biết được lô rừng đó ai trồng, trồng năm nào, lượng khí thải mà khu rừng đó rút được. Thậm chí, chỉ cần điện thoại kết nối 3G là nắm được mọi diễn biến về cháy rừng một cách kịp thời và cụ thể từ vị trí đến mức độ thiệt hại.

Minh bạch và ích lợi là vậy, thế nhưng không ít người băn khoăn nếu như đối tượng cùng tham gia cập nhật và sử dụng dữ liệu rộng lớn, từ cán bộ kiểm lâm Trung ương đến địa phương; từ chi cục, hạt đến kiểm lâm địa bàn; từ chủ rừng đến các hộ nhận khoán và cán bộ liên quan ở các cấp xã đến cấp tỉnh thì làm thế nào để kiểm soát và bảo đảm số liệu được nhập vào chính xác, minh bạch? Nói như đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, qua cổng dữ liệu này, cơ quan quản lý nhà nước cũng như tất cả mọi người có thể giám sát về hiện trạng rừng do đó không ai có thể nói dối được về số liệu cũng như hiện trạng diện tích có rừng. Nếu cập nhật số liệu giả, không khớp thì hệ thống sẽ từ chối và cơ quan chức năng vẫn có cơ chế để kiểm tra các dữ liệu được nhập vào.

Việc quản trị dữ liệu phải bảo đảm tính trung thực và khoa học đồng nghĩa với sử dụng dữ liệu phải “mở” bởi nó không chỉ phục vụ cho ngành lâm nghiệp mà phục vụ cho toàn xã hội. Tức là phải tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp không chỉ sử dụng được mà còn có thể tham gia góp ý, giám sát đánh giá dữ liệu từ đó hoàn thiện việc theo dõi diễn biến rừng, làm cơ sở phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Để bộ dữ liệu tiếp tục được cập nhật, không trở thành những dữ liệu “chết” rất cần nâng cao hơn nữa năng lực của cán bộ địa phương trong việc xử lý thông tin cũng như có cơ chế, chính sách để phát triển. Hơn hết, cần đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến rộng rãi để việc khai thác, sử dụng bộ dữ liệu này hiệu quả và an toàn.

Dương Cầm
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang