XÃ HỘI
Cập nhật 22:08 | 20/08/2017 (GMT+7)
.
Ảnh hưởng của ô nhiễm nhiệt điện than

Cần có đánh giá tác động về sức khỏe

09:00 | 29/07/2017
Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2030, cả nước sẽ có khoảng 55.000 MW nhiệt điện than. Vậy làm gì để bảo vệ sức khỏe người dân do tác động của nhiệt điện than? là nội dung chính được thảo luận tại Hội thảo Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tới sức khỏe cộng đồng, diễn ra sáng 28.7.

Số ca tử vong sớm do nhiệt điện than sẽ tăng?

Có hai loại ô nhiễm là ô nhiễm không khí xung quanh (do đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hoạt động giao thông) và ô nhiễm không khí trong nhà (do đun nấu bằng nhiên liệu rắn như than, củi, phân khô, các phế thải nông nghiệp khác). Toàn cầu có khoảng 3 triệu người chết do ô nhiễm không khí xung quanh (năm 2012); 2,85 triệu người chết vì ô nhiễm không khí trong nhà (năm 2015). Với trẻ em dưới 5 tuổi, ô nhiễm không khí trong nhà là yếu tố nguy cơ thứ 7 dẫn tới tử vong.

Nguồn: Báo cáo của Tổ chức
Y tế Thế giới năm 2016

ThS. Tôn Tuấn Nghĩa, cán bộ sức khỏe môi trường của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dẫn báo cáo của Tổ chức này năm 2016 cho thấy, có khoảng 2 triệu người chết trẻ hằng năm trên toàn cầu do ô nhiễm không khí, trong đó hơn một nửa là người dân các nước đang phát triển. “Các ngành công nghiệp đốt than, nhà máy nhiệt điện và đốt than sưởi trong nhà chiếm 40% tỷ lệ phơi nhiễm hạt rắn lơ lửng PM2.5 và ước tính gây ra 366.000 ca tử vong trong năm 2013. Trong năm 2015, phơi nhiễm dài hạn đối với hạt rắn PM2.5 gây ra 4,2 triệu ca tử vong trên toàn cầu, xếp thứ 5 về nguyên nhân gây tử vong”, ông Nghĩa cho hay.

Còn theo số liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) năm 2016, lĩnh vực năng lượng (sản xuất và sử dụng điện năng) gây phát thải ô nhiễm lớn nhất, bao gồm đốt cháy nhiêu liệu hóa thạch, khai thác than, hoạt động công nghiệp, xử lý than, vận chuyển than và khí gas… trong nhóm ô nhiễm do con người gây ra. Sản xuất và sử dụng năng lượng thải ra phần lớn khí SO2, NOX và 85% lượng bụi PM.

Tại Việt Nam, hiện “có đủ nhóm phát thải gây ra ô nhiễm không khí” - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD) Trần Tuấn nhìn nhận. Ông Tuấn chỉ rõ, dù chưa có số liệu xác định đâu là nguyên nhân hàng đầu, song thời gian qua, xu hướng tăng nguồn ô nhiễm diễn ra liên tục từ các nhà máy sản xuất công nghiệp, công trình xây dựng, phương tiện giao thông, đặc biệt là nguồn ô nhiễm từ nhà máy nhiệt điện chạy than. Đáng chú ý, báo cáo của nhóm nghiên cứu Đại học Havard, Mỹ về gánh nặng bệnh tật do nhiệt điện than ở Đông Nam Á dự báo, số ca tử vong sớm ở Việt Nam do ô nhiễm nhiệt điện than sẽ tăng từ 4.300 ca (năm 2011) lên 15.700 ca (năm 2030), trong bối cảnh cả nước sẽ có thêm 41 nhà máy nhiệt điện than được xây dựng theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh.

Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh (GreenID) Trần Đình Sính không giấu được nỗi lo ngại khi nhìn vào con số khoảng 40.000 MW nhiệt điện than sẽ tăng lên từ nay đến năm 2030, tức là gấp gần 4 lần so với hiện nay. “Trước khi có Quy hoạch điện VII sửa đổi, nhiệt điện than được dự báo sẽ chiếm khoảng 90% tổng số các chất gây ô nhiễm không khí, nhưng khi có Quy hoạch này thì lại chưa đưa ra con số dự báo cụ thể”.


Ô nhiễm từ nhiệt điện than ảnh hưởng lớn đến sức khỏe

Kiểm soát chặt chất lượng than nhập khẩu

Trong bối cảnh tiềm năng năng lượng sơ cấp trong nước cho sản xuất điện, thủy điện vừa và lớn cơ bản đã khai thác hết, các nguồn năng lượng khác tương đối hạn chế, nhiệt điện than sẽ ngày càng đóng vai trò quan trong việc bảo đảm an ninh năng lượng. Dự kiến đến năm 2020, tổng công suất nhiệt điện than khoảng 26.000MW, chiếm hơn 49% điện sản xuất. Đến năm 2030, nhiệt điện than đạt khoảng hơn 55.000MW, chiếm tỷ trọng hơn 53%. Song, rõ ràng, nguy cơ gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng tới sức khỏe con người từ nhiệt điện than là hiện hữu. Vậy cần làm gì để giảm bớt tác động đối với môi trường cũng như sức khỏe con người là vấn đề lớn đặt ra cho các cơ quan quản lý hiện nay.

Theo các chuyên gia, trước hết, cần đẩy mạnh công tác truyền thông trong xã hội về ảnh hưởng do nhiệt điện than gây ra. Nhà nước cần đưa ra quy định quản lý và kiểm soát ô nhiễm không khí, tuân thủ các khuyến cáo quốc tế; xây dựng, hướng dẫn kỹ thuật cho chính quyền địa phương trong giám sát chất lượng không khí, theo dõi tình hình bệnh tật cũng như hướng dẫn cộng đồng dân cư nhận biết và có giải pháp phòng ngừa ô nhiễm không khí do nhiệt điện than. Ngoài ra, theo ThS. Tôn Tuấn Nghĩa, Nhà nước cần có đánh giá tác động về sức khỏe khi triển khai các dự án nhiệt điện than. Bởi hiện nay, “các dự án đều có đánh giá tác động môi trường nhưng không có đánh giá tác động sức khỏe, hoặc có làm nhưng rất qua loa”. Do vậy, Nhà nước cần đưa ra quy định buộc chủ đầu tư phải có đánh giá tác động sức khỏe, chỉ ra các nguy cơ và phải có kế hoạch bảo vệ cho người dân. Làm được như vậy thì việc xây dựng thêm 41 nhà máy nhiệt điện sẽ không phải là vấn đề quá nghiêm trọng.

Phó Giám đốc Trần Đình Sính bổ sung, hiện nay, các nhà máy nhiệt điện ở nước ta chủ yếu sử dụng công nghệ cận tới hạn, trong khi Trung Quốc đã cấm công nghệ này còn các nước châu Âu thậm chí đã cấm công nghệ siêu tới hạn vào năm 2020. Các nhà máy nhiệt điện sử dụng thiết bị lọc tĩnh điện lọc bụi PM đạt tới 99,75%, song, với 0,25% bụi PM thoát ra ngoài không khí thì nhà máy nhiệt điện có công suất 1.200 MW sẽ phun ra môi trường khoảng 7,7 tấn bụi PM, nhân lên với tổng công suất nhiệt điện than sẽ thấy đó là con số không nhỏ. “Mặc dù than dùng cho nhiệt điện ở nước ta là than sạch, ít lưu huỳnh song để thực hiện theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2030, cả nước sẽ phải nhập khoảng 85 triệu tấn than/năm phục vụ cho phát điện. Do đó, Nhà nước phải khống chế, kiểm tra chặt về chất lượng than nhập khẩu để hạn chế tối đa nguồn phát thải gây ra”, ông Sính khuyến cáo.

Đan Thanh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang