XÃ HỘI
Cập nhật 11:11 | 22/09/2017 (GMT+7)
.
NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT, SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC

Vì một nền nông nghiệp sạch

08:59 | 10/07/2017
Theo thống kê, số lượng thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Việt Nam gia tăng rất nhanh kể từ năm 2000, trong đó có nhiều sản phẩm được nghiên cứu, sản xuất trong nước. Tuy vậy, theo đánh giá của các nhà kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), dù số lượng các thuốc sinh học tăng nhanh nhưng doanh số chỉ trên dưới 10% tổng doanh số thuốc BVTV.

Nghiên cứu, sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học

Thuốc BVTV sinh học an toàn và ít độc đối với sức khỏe người, sinh vật có ích và môi trường, nhanh phân hủy trong tự nhiên, ít để lại dư lượng trong nông sản, thời gian cách ly ngắn nên rất thích hợp sử dụng cho các nông sản sạch. Thuốc thường được phân thành 3 loại chính: Thuốc BVTV vi sinh; thuốc BVTV hóa sinh và thuốc BVTV nguồn gốc tự nhiên.

Nhận thức rõ vai trò to lớn của thuốc BVTV sinh học, từ đầu những năm 1980, Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, đưa vào sử dụng và mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường. Các nghiên cứu về virus côn trùng để trừ sâu hại được bắt đầu từ năm 1980. Việc nghiên cứu gồm hai nội dung: Nghiên cứu nhân nuôi hàng loạt sâu ký chủ bằng môi trường thức ăn nhân tạo và nghiên cứu phát triển chế phẩm NPV. Nhờ vậy, chúng ta đã sử dụng virus thành công trong việc phòng trừ một số loài sâu hại như sâu đo xanh hại đay; sâu xanh hại bông, nho; sâu khoang hại đậu đỗ. Cho đến nay đã có hơn 100 loại thuốc BVTV sinh học có nguồn gốc Bt (loại vi khuẩn gây bệnh cho côn trùng quan trọng nhất) được dùng để chống bọ phấn, côn trùng bộ 2 cánh và ấu trùng bọ cánh cứng. Sản phẩm Bt chiếm khoảng 70% thị trường thuốc BVTV sinh học toàn cầu và sẽ tiếp tục là vũ khí quan trọng bảo vệ cây trồng chống lại dịch hại. 

Thuốc BVTV hóa sinh là các chất trong tự nhiên như chiết xuất từ thực vật, axít béo hoặc pheromone (chất dẫn dụ) dùng để phòng trừ dịch hại. Thuốc BVTV hóa sinh bao gồm các chất cản trở sự phát triển hoặc giao phối, chất xua đuổi hoặc thu hút dịch hại như pheromone. Đối với thuốc BVTV nguồn gốc tự nhiên, nước ta có hệ thực vật phong phú với nhiều loại cây có dầu, tinh dầu chứa các chất có hoạt tính sinh học cao và đa dạng. Theo các kết quả điều tra của Viện Bảo vệ thực vật và một số cơ quan khác, cả nước đã phát hiện 137 loài cây độc trong đó có 23 loài có độc tính cao, hiệu quả sinh học mạnh, nguồn nguyên liệu lớn có thể khai thác sử dụng làm thuốc thảo mộc trừ dịch hại như các cây dây mật, cây thanh hao hoa vàng, cây củ đậu, cây xoan Ấn Độ (Neem)… Đây là lợi thế quan trọng giúp phát triển các thuốc BVTV sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững.


Nguồn: songhuuco.vn

Còn nhiều thách thức…

Bên cạnh các ưu điểm, thuốc BVTV sinh học cũng còn bộc lộ một số nhược  điểm như: Giá thành cao, hiệu lực phòng trừ dịch hại chậm hơn các thuốc BVTV hóa học; thời gian bảo quản của nhiều loại thuốc BVTV sinh học ngắn, hiệu lực phòng trừ dịch hại của một số thuốc bị tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm... Nông dân có thói quen thích sử dụng thuốc BVTV có hiệu lực nhanh dẫn đến khối lượng và số lượng thuốc BVTV sinh học dùng trong sản xuất còn hạn chế. Hiện, thuốc BVTV sinh học cả từ nguồn nhập khẩu và sản xuất trong nước chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng thuốc BVTV sử dụng hàng năm.

Theo Cục BVTV, các sản phẩm sinh học đều được sản xuất từ sinh vật sống, do đó có đặc tính kỹ thuật cao, trong khi hiện vẫn chưa có hướng dẫn và quy trình ứng dụng đồng bộ, kiến thức của người dân cũng còn nhiều hạn chế từ đó cản trở việc sử dụng. Chưa có quy trình tách triết, lên men và sản xuất ổn định, do đó chất lượng sản phẩm sản xuất tại Việt Nam thường không ổn định, độc tố thường bị giảm sau một số lần sản xuất. Một số chế phẩm do các cơ quan trong nước nghiên cứu sản xuất chưa được thị trường chấp nhận.

Thúc đẩy sử dụng thuốc BVTV sinh học

Để tăng cường việc sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học, Cục BVTV kiến nghị một số giải pháp như: Cần loại bỏ bớt các quy định phức tạp, không cần thiết để thuốc BVTV sinh học được đăng ký dễ dàng hơn, nhằm tăng số lượng và khối lượng thuốc BVTV sinh học được dùng trong sản xuất. Bên cạnh đó, đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ vốn, cho thuê đất làm xưởng, miễn hoặc giảm thuế sản xuất, tiêu thụ cho thuốc BVTV sinh học.

Cùng với đó, các sản phẩm nghiên cứu thuốc BVTV sinh học phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất. Điều này nên chăng cần có sự hợp tác giữa cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp phân phối sản phẩm nhằm bảo đảm tiêu thụ được các sản phẩm. Đặc biệt, thông qua các phương tiện truyền thông để giới thiệu, khuyến khích người sản xuất sử dụng thuốc BVTV sinh học. Nhà nước cũng nên có các chính sách hỗ trợ giá cho nông dân khi dùng thuốc BVTV sinh học.

Xuân Thọ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang