XÃ HỘI
Cập nhật 22:21 | 21/10/2017 (GMT+7)
.
Thuốc Bảo vệ thực vật

Nghiên cứu, xu hướng và quy trình đánh giá

09:10 | 18/06/2017
An toàn thực phẩm là một trong những trọng tâm của công nghệ khoa học thực vật, trong đó có việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để bảo vệ cây trồng khỏi dịch hại và các độc tố nấm mốc nguy hiểm, ngăn chặn rủi ro tiềm ẩn cho sức khoẻ con người.

Thuốc BVTV - ngành khoa học cần đầu tư cao

Để mỗi hoạt chất thuốc BVTV có thể được đưa ra thị trường, các công ty nghiên cứu và phát triển phải sàng lọc trung bình khoảng 160.000 hoạt chất khác nhau, tiêu tốn 286 triệu USD trong giai đoạn khoảng 11 năm. Việc đầu tư dài hạn này nhằm bảo đảm tính an toàn và hiệu lực của thuốc BVTV tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt theo các quy định về  đăng ký và quản lý lưu hành trên khắp thế giới. Từ năm 1995, tổng số lượng các hoạt chất được tổng hợp và thử nghiệm nghiên cứu cho mục đích đăng ký là 160.000 hoạt chất, tăng 190%. Điều này không chỉ phản ánh các khó khăn ngày càng tăng trong việc tìm ra các sản phẩm mới có tính đột phá, mà còn thể hiện sự dè dặt của các tập đoàn trong chọn lọc, chấp nhận đầu tư và phát triển các ứng viên sản phẩm tiềm năng được sàng lọc từ quá trình nghiên cứu.

Mặc dù vậy, các tập đoàn nghiên cứu và phát triển thuốc BVTV tiếp tục cam kết đầu tư nguồn lực và tài chính để nghiên cứu các công nghệ tiên tiến giúp người nông dân quản lý được dịch bệnh, cỏ dại gây hại cho mùa màng và nguồn thực phẩm toàn cầu. Theo ước tính, con số đầu tư vào nghiên cứu và phát triển này lên tới 2,625 tỷ USD vào năm 2014 và sẽ còn tăng khoảng 22% vào năm 2019.

Xu hướng BVTV trên thế giới

Hiện trên thế giới, xu hướng chính trong ngành BVTV là khuyến khích Quản lý Dịch hại Tổng hợp (IPM) và Thực hành Nông nghiệp Tốt (GAP), trong đó phải bao gồm việc sử dụng thuốc BVTV có trách nhiệm và an toàn. Để làm được việc này, tất cả các bộ phận liên quan phải được tập huấn, được cung cấp các giải pháp thuốc BVTV chất lượng cao, được điều chỉnh bởi một hành lang pháp lý và chính sách thích hợp nhằm khuyến khích áp dụng mô hình IPM và bảo đảm các thuốc BVTV mới được đăng ký và lưu hành. Thử thách này chỉ được tháo gỡ thông qua sự phối hợp giữa nhiều cá nhân tổ chức khác nhau, từ chính phủ, doanh nghiệp, nông dân, đơn vị sản xuất, chế biến và thu mua xuất khẩu hàng nông sản. Để làm việc này tại Việt Nam, nhiều diễn đàn hợp tác quốc tế, hợp tác công tư cũng đã được mở để tạo kênh đối thoại chính sách và thảo luận trong đó có thể kể đến Nhóm làm việc về Hóa chất Nông nghiệp trong khuôn khổ của Diễn đàn Phát triển châu Á do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổ chức CropLife Việt Nam và tổ chức phi chính phủ IDH đồng chủ trì.


Nguồn: baodautu.vn

Quy trình đánh giá theo chuẩn mực quốc tế

Với mức độ đầu tư rất lớn về thời gian và tài chính cho một sản phẩm công nghệ cao, tiên tiến, các công ty nghiên cứu thuốc BVTV cần một hệ thống pháp quy phù hợp, có thể dự đoán được và dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc đánh giá rủi ro. Trên thế giới một số hệ thống pháp quy chuẩn quốc tế như Bộ tiêu chuẩn Codex Alimentarius được ban hành bởi các cơ quan như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hay Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được sử dụng trong việc đánh giá và phê duyệt cho sử dụng thuốc BVTV. Hơn thế nữa, khi đã được cấp phép lưu hành ngoài thị trường, các sản phẩm thuốc BVTV vẫn tiếp tục được các cơ quan có thẩm quyền tái thẩm định định kì.

Cần biết rằng, tất cả các sản phẩm thuốc BVTV để được thương mại hóa bắt buộc phải được phê duyệt bởi chính phủ tại quốc gia đó. Thời gian đăng ký sản phẩm trung bình thay đổi phụ thuộc vào chính phủ tại các quốc gia khác nhau. Riêng tại Hoa Kỳ, giai đoạn để phê duyệt một hoạt chất mới là 18 - 24 tháng và khoảng 6 tháng cho một thành phẩm mới. Hầu hết các quốc gia phát triển (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, EU) sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro trong quá trình thẩm định và ra quyết định cho phép đăng ký sử dụng thuốc BVTV. Theo nguyên tắc này, mối nguy hại theo từng liều lượng sử dụng và trong từng điều kiện phơi nhiễm sẽ được xác định thông qua hàng trăm kết quả nghiên cứu độc học và hóa lý nhằm thẩm định rủi ro. Khi rủi ro của sản phẩm được xác định, một loạt các biện pháp quản lý rủi ro sẽ được phát triển và đánh giá nhằm xem xét sản phẩm có được phép đăng ký cho sử dụng hay không.

Xuân Thọ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang