XÃ HỘI
Cập nhật 23:31 | 22/10/2017 (GMT+7)
.
Đào tạo nghề lao động nông thôn

Chưa đặt đúng vị trí

08:21 | 24/03/2017
Qua gần 7 năm thực hiện nhưng Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (Đề án 1956) chưa khi nào hoàn thành mục tiêu của Trung ương Đảng, QH đề ra. Nguyên nhân được cho là đào tạo chưa sát và gắn với nhu cầu thị trường; nguồn lực thực hiện vừa thiếu lại vừa chậm, thậm chí một số địa phương chưa nhận thức đúng đắn về chủ trương này… Đây cũng là đánh giá của các đại biểu tại Hội nghị Công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn do Bộ LĐ, TB - XH và Bộ NN - PTNT tổ chức sáng 23.3.

Nghẽn về nhận thức và nguồn lực

Một trong những đánh giá đầu tiên về đào tạo nghề cho lao động nông thôn thời gian qua là mới chỉ tạm đạt về chiều rộng nhưng chưa có chiều sâu. Đào tạo không gắn với nhu cầu của thị trường, của lợi thế và quy hoạch phát triển vùng, địa phương nên sau đào tạo, nhiều nông dân không tìm được việc làm hoặc không sống được bằng nghề đã học. Nguyên nhân có nhiều nhưng trước tiên phải xét đến nhận thức của các cấp chính quyền đã thực sự thôngthấu tinh thần của Nghị quyết 26 của Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; Chỉ thị 19 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn… hay chưa? Bởi lẽ, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu, rộng như hiện nay, Việt Nam không chuẩn bị cho mình một nguồn nhân lực chất lượng cao thì mãi chỉ là quốc gia điển hình về nhân công giá rẻ, không đủ sức cạnh tranh trên bất cứ mặt trận nào kể cả nông nghiệp - lợi thế sẵn có và lâu đời của người Việt.


Cán bộ Trung tâm Dạy nghề Krông Ana, Đắk Lắk giới thiệu về việc hấp khử trùng bịch nấm linh chi
do các học viên 1956 thực hiện

 Trong phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ LĐ, TB - XH Đào Ngọc Dung đã nhắc lại phản ánh của một ĐBQH rằng, có xã đã tập trung thực hiện Đề án 1956 bằng việc đào tạo một lúc 600 người làm nghề hoạn lợn! Rất may, “đấy không phải trường hợp phổ biến nhưng chắc chắn đó cũng không phải là hiện tượng hiếm” - ông Dung khẳng định và cho rằng, khi nào vẫn còn có những cán bộ thực hiện trên tinh thần thành tích như vậy thì khi đó tam nông vẫn còn khó khăn.

Bên cạnh đó, việc phân bổ nguồn lực thực hiện (nguồn của Trung ương) chưa nghiêm túc. Đơn cử, năm 2016, tổng kinh phí Trung ương cấp cho các địa phương để đào tạo nghề cho lao động nông thôn là gần 500 tỷ đồng (bằng 20% tổng nhu cầu). Tuy nhiên, đến hết năm các địa phương mới bố trí chưa đầy 240 tỷ đồng để đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Cá biệt như Bình Phước, giao toàn bộ kinh phí xây dựng nông thôn mới cho cấp huyện, cấp xã, nhưng không có nội dung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn được đưa vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Nguồn lực vừa thiếu, vừa yếu lại không đúng mục đích, cộng thêm sự chậm chạp ở mỗi khâu, dẫn đến, hầu hết các địa phương phân bổ kinh phí chậm (tháng 5, 6, có nơi tháng 10.2016 mới được giao kinh phí). Ngay ở Trung ương, đến cuối tháng 12.2016 mới được phân bổ kinh phí cho các bộ, ngành, Trung ương để thực hiện nhiệm vụ.

Đưa 1956 về đúng vị trí

Giai đoạn 2016 - 2020, đào tạo nghề cho lao động nông thôn được lồng ghép trong Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Tổng kinh phí thực hiện đào tạo nghề cho giai đoạn 2016 - 2020 là 12.600 tỷ đồng; đào tạo nghề cho 5,5 triệu lao động nông thôn. Sau đào tạo, ít nhất 80% số người học có việc làm mới.

Sau gần 7 năm thực hiện, dù chưa khi nào đạt mục tiêu QH giao, song không thể phủ nhận những đóng góp thiết thực của Đề án 1956 trong góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo; nâng năng suất lao động xã hội từ 37,9 triệu đồng (nông nghiệp 14,1 triệu đồng) năm 2009 lên 84,5 triệu đồng (nông nghiệp 32,9 triệu đồng) năm 2016 và thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội từ 51,5% làm nông nghiệp năm 2009, xuống còn 44% năm 2015, giảm 7,5%.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Trần Đức Quý, Đề án 1956 đã giúp cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở Quản Bạ, Bắc Quang, Hoàng Su Phì khởi sắc. Nhờ đó, Hà Giang đã kịp thời đáp ứng lực lượng lao động có kỹ thuật trong thực hiện Đề án phát triển 100ha cây dược liệu quý của tỉnh. Tuy nhiên, ông Quý cũng cho hay, nhìn chung, công tác này vẫn còn nhiều khó khăn. Việc phân bổ vốn chậm và ít; địa bàn phân tán, cán bộ thiếu, cộng thêm lý do khách quan từ phía doanh nghiệp… nên lao động học xong không có nơi tiếp nhận, dẫn đến tình trạng học rồi để đấy.

Hay tại Hải Phòng - địa phương có nhiều khu công nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài thì việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là các nghề phi nông nghiệp thực sự khởi sắc. Tại đây, sự gắn kết giữa người lao động, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp luôn được ví như “răng với môi”. Cũng bởi vậy, Hải Phòng là địa phương có tỷ lệ lao động trong độ tuổi thất nghiệp rất thấp. Tuy nhiên, theo đại diện Phòng Dạy nghề, Sở LĐ, TB - XH Hải Phòng, nếu việc phân bổ vốn quá chậm, lại ít như vậy thì chất lượng đào tạo khó có thể bảo đảm, nhất là tại các địa phương thuộc diện khó khăn.

Ý kiến của Hà Giang, Hải Phòng cũng là tâm tư chung của nhiều đại biểu. Đa số đều thống nhất về chủ trương, tính đúng đắn của Đề án 1956, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong phân bổ nguồn lực, chọn ngành nghề, nội dung đào tạo… Do đó, các đại biểu kiến nghị, tới đây, để đưa việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn trở về đúng vị trí trọng tâm như Nghị quyết của Trung ương Đảng Khóa X, XII đã nêu, Chính phủ cần ban hành văn bản quy định rõ về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và quy định tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Đối với ngành, nghề phi nông nghiệp, tập trung đào tạo các nghề để phát triển công nghiệp phụ trợ, đào tạo theo nhu cầu thị trường, gắn đào tạo nghề với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. 

Thái Bình
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang