XÃ HỘI
Cập nhật 23:33 | 21/09/2017 (GMT+7)
.
Thứ trưởng Bộ LĐ, TB - XH Doãn Mậu Diệp

“Không có đề án đưa cử nhân, thạc sĩ đi lao động nước ngoài”

08:41 | 24/02/2017
“Chúng tôi không có Đề án nào đưa cử nhân, thạc sĩ đi làm việc ở nước ngoài, mà chỉ có Đề án đưa lao động qua đào tạo đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với lĩnh vực, ngành nghề mà họ đã được đào tạo” - Thứ trưởng Bộ LĐ, TB - XH DOÃN MẬU DIỆP khẳng định. Ông cho biết, nguồn lao động đã qua đào tạo đang dư thừa nên phải tính đến việc đưa họ đến với các công việc tốt hơn.

“Có cơ hội trở thành hiện thực”

- Vừa qua, dư luận có ý kiến trái chiều về việc Bộ LĐ, TB - XH xây dựng Đề án đưa cử nhân, thạc sĩ đang thất nghiệp đi làm việc tại nước ngoài. Xin ông cho biết cụ thể về vấn đề này?


 

- Tôi xin khẳng định: Đề án của chúng tôi là đưa lao động đã qua đào tạo, có thể là những người tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng hoặc cao hơn đi làm những công việc mà họ có nguyện vọng. Không có Đề án nào đưa cử nhân, thạc sĩ đi làm việc ở nước ngoài, mà chỉ có đề án đưa lao động qua đào tạo đi làm việc ở nước ngoài. Đề án này tập trung vào việc đưa lao động có trình độ đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với lĩnh vực, ngành nghề mà họ đã được đào tạo, chứ không phải với mục đích đưa cử nhân, thạc sĩ ra nước ngoài làm lao động phổ thông.

- Vì sao Bộ LĐ, TB - XH xây dựng Đề án này, thưa ông?

- Thời gian qua, thị trường tiếp nhận lao động được mở rộng. Số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng dần theo hàng năm. Chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài không ngừng được nâng cao. Hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài dần đi vào nền nếp…

Tuy nhiên, đối tượng lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài vẫn tập trung chủ yếu vào lao động không có nghề hoặc trình độ tay nghề thấp. Trong hơn 100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm rất thấp. Bên cạnh đó, Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý II.2016 cho thấy, cả nước có hơn 1 triệu người trong độ tuổi lao động thất nghiệp, trong đó có gần 200 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên, hơn 94 nghìn người có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp… và đây cũng là những đối tượng chiếm tỷ lệ thất nghiệp cao nhất (4 - 6,6%)

Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng chỉ ra rằng, 26% lao động trẻ có trình độ học vấn cao hơn yêu cầu công việc mà họ đang làm; 2/3 sinh viên tốt nghiệp mong muốn làm việc trong khu vực nhà nước mà khả năng thu hút thì hạn chế; 1/3 làm những công việc dễ bị tổn thương, thu nhập thấp. Ngoài ra, theo dự báo của thế giới, trong những năm tới, xu hướng già hóa dân số ở các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam tiếp tục tăng cao, do đó, nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài của các quốc gia này sẽ gia tăng, đặc biệt đối với lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Điều đó sẽ giúp cho Đề án này có cơ hội trở thành hiện thực.

- Trong dự thảo Đề án, Bộ đặt ra những mục tiêu nào, nguồn lực và giải pháp thực hiện ra sao, thưa ông?

- Hiện nay, dự thảo Đề án mới đang trong giai đoạn nghiên cứu sơ khai nên chưa thể nói sâu về các mục tiêu cụ thể. Song, nói chung việc nghiên cứu đưa lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ra nước ngoài làm việc là để góp phần nâng cao vị thế của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia tiếp nhận lao động thông qua lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Đồng thời, góp phần giảm áp lực nguồn cung việc làm từ trong nước, giảm tỷ lệ thất nghiệp của một bộ phận sinh viên tốt nghiệp ra trường, cũng như tạo động lực đổi mới giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng. Trước mắt tập trung nghiên cứu đưa lao động ngành điều dưỡng, hộ lý cũng như kỹ sư các ngành cơ khí, hàn, đầu bếp, công nghệ thông tin và điện tử đi làm việc tại một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, CHLB Đức… Song song với đó, tiếp tục nỗ lực đàm phán để đưa lao động đến một số thị trường tiền năng mới.

Tất nhiên đấy là một Đề án đầy thách thức và có nhiều việc cần làm như: Vận động chính sách đối với các quốc gia tiếp nhận lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tiến hành đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác; tìm hiểu thị trường, hay nói cách khác là tìm hiểu cầu lao động; rà soát, đánh giá lại số lượng lao động, xem cung lao động của ta có những gì. Trên cơ sở so sánh cầu của bạn - cung của ta để xác định các chương trình đào tạo phù hợp và đưa vào giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp của ta để bảo đảm học viên tốt nghiệp các trường theo giáo trình này đạt chuẩn do phía nước ngoài yêu cầu… Từ đó, đề xuất các chính sách hỗ trợ người lao động học ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu thị trường lao động quốc tế. Tất nhiên, cũng cần các chính sách hỗ trợ tín dụng đối với người lao động để trang trải chi phí đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thâm nhập các thị trường mới.


Nguồn: cafef.vn

“Chỉ là giải pháp tình thế!”

- Có ý kiến cho rằng đưa lao động có trình độ cử nhân, thạc sĩ đi lao động nước ngoài là làm chảy máu chất xám. Ông bình luận như thế nào về quan điểm này?

- Cá nhân tôi cũng cho rằng nguồn lao động có trình độ cao (cử nhân, thạc sĩ…) trước hết phải dành cho phục vụ nhu cầu thị trường lao động trong nước. Bởi lực lượng này là động lực cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng suất lao động. Song, cần làm rõ rằng, khi nguồn lao động đã qua đào tạo trong nước dư thừa, vượt quá khả năng tiếp nhận của thị trường lao động trong nước, hoặc phải làm các công việc thấp hơn trình độ của họ, các công việc dễ bị tổn thương, thu nhập thấp thì cũng phải tính đến việc đưa họ đến với các công việc tốt hơn, phù hợp với năng lực của họ, mức thu nhập mà họ xứng đáng được hưởng. Đây cũng chính là “giải pháp tình thế” nhằm giảm áp lực việc làm đối với nhóm đối tượng lao động này.

- Hiện có tình trạng những lao động xuất khẩu khi về nước không được sử dụng lại dù họ có trình độ ngoại ngữ, có tác phong, kỷ luật lao động và được tiếp cận với các kỹ thuật hiện đại. Ông có cho rằng, chúng ta đang lãng phí nguồn lao động này không?

- Đúng là hiện nay còn thiếu các giải pháp hỗ trợ thiết thực đối với những lao động đã hoàn thành hợp đồng lao động ở nước ngoài trở về nước, tái hòa nhập với thị trường lao động trong nước. Tuy nhiên, nếu chỉ như vậy mà đã khẳng định rằng “chúng ta đang lãng phí trong việc sử dụng nguồn lao động này” cũng hoàn toàn không chính xác.

Bởi vì mặc dù chưa có cơ chế quản lý, giám sát việc tái hòa nhập thị trường lao động trong nước đối với những lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về, nhưng trong những năm gần đây, chúng ta cũng đã có rất nhiều các cuộc khảo sát với nhóm đối tượng này và kết quả cho thấy những đối tượng này hòa nhập tương đối tốt với thị trường lao động trong nước. Rất nhiều trong số những lao động đi làm việc ở nước ngoài khi trở về đã tìm được việc làm trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc đã tự khởi nghiệp bằng những đồng vốn và kinh nghiệm tích lũy được trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Cũng có nhiều lao động sau khi hoàn thành hợp đồng lao động ở nước ngoài trở về đã tiếp tục đăng ký đi làm việc ở chính nước đó hoặc những nước khác có yêu cầu cao hơn về điều kiện và mức lương cũng như các chế độ quyền lợi tốt hơn.

Thời gian tới đây, khi nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Bộ sẽ nghiên cứu để các giải pháp hỗ trợ đối với nhóm đối tượng này trong việc tái hòa nhập thị trường lao động trong nước sau khi kết thúc thời gian làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Xin cảm ơn ông!

Thái Bình thực hiện
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang