KINH TẾ
Cập nhật 08:14 | 28/04/2017 (GMT+7)
.

Tọa đàm "Tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp sạch"

08:24 | 06/11/2012
Nông nghiệp sạch đang đặt ra yêu cầu bức thiết đối với vấn đề tái cơ cấu nền nông nghiệp và sự phát triển bền vững nền nông nghiệp Việt Nam.
Tọa đàm "Tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp sạch"

 

Nông nghiệp sạch đang đặt ra yêu cầu bức thiết đối với vấn đề tái cơ cấu nền nông nghiệp và sự phát triển bền vững nền nông nghiệp Việt Nam.


Nguyễn văn A (40 tuổi), Hà Nội: câu 1

Toàn cảnh Tọa đàm

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Những năm qua, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển đột phá, giành được nhiều thành tựu to lớn, nâng giá trị xuất khẩu nông nghiệp hàng tỷ đô. Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh quyết liệt của các nước trong khu vực và thế giới, nhiều sản phẩm nông nghiệp của chúng ta còn thua kém về chất lượng và giá cả. Đặc biệt với yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… đã tác động nhiều đến định hướng sản xuất nông nghiệp trong đó có nông nghiệp sạch.

Vâng, thưa ông Trương Minh Hoàng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, là người từng gắn bó với địa phương, với KHCN và sản xuất, qua giám sát, ông nhìn nhận như thế nào về tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp sạch?

Nguyễn văn A (41 tuổi), Hà Nội: câu 2

PCN Trương Minh Hoàng: Những năm gần đây, Đảng, Nhà nước đã có chủ trương, chính sách tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Triển khai Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đặc biệt, QH Khóa XIV đã thực hiện giám sát tối cao về ATTP. Mục tiêu chung là tái cơ cấu ngành Nông nghiệp hướng đến năm 2020 nước ta sẽ xây dựng được nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững. Trong quá trình thực hiện chương trình tái cơ cấu, chúng ta xác định lấy nông dân làm chủ lực thực hiện.

Thông qua các chương trình giám sát, chúng tôi thấy rằng, sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay từng bước thực hiện sản xuất theo chuỗi hàng hóa. Tăng thu nhập trong một đơn vị diện tích. Đồng thời, tăng cường áp dụng KHKT, các tiêu chuẩn, chương trình sản xuất sạch, an toàn. Tăng cường sử dụng chỉ dẫn địa lý, nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm. Từng bước hiện đại hóa công tác chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu. Tái cơ cấu nông nghiệp đã từng bước đi theo đúng hướng.

Nguyễn văn A (42 tuổi), Hà Nội: câu 3

Ông Trương Minh Hoàng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học,

Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào nông nghiệp, sản xuất theo chuỗi, nhằm tạo ra các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Cả nước, trên 4.200 doanh nghiệp đã đồng hành theo chương trình này. Các ngành, địa phương cũng đã phê duyệt các đề án, quy hoạch sản xuất thực phẩm sạch, nông nghiệp công nghệ cao.

Nguyễn văn A (39 tuổi), Hà Nội: cau 4

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Về những điểm khái quát chung, xin được hỏi ông Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT: Từ góc độ quản lý lĩnh vực trồng trọt, Bộ NN và PTNT, xin ông đánh giá tác động của tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển nông nghiệp sạch đối với lĩnh vực trồng trọt nước ta?

Nguyễn văn A (38 tuổi), Hà Nội: cau5

Cục trưởng (CT) Nguyễn Hồng Sơn: Sau 30 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã có sự phát triển hết sức nhanh chóng, đáng ghi nhận. Chúng ta từ một nước thiếu lương thực đến một nước xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản có giá trị cao. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay, khi bối cảnh có sự thay đổi, hệ thống sản xuất không đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa thì sản xuất của chúng ta đã bộc lộ những hạn chế. Trong đó hạn chế lớn nhất là hiệu quả kinh tế thấp. Chúng ta thấy rõ nhất là đối tượng cây trồng và một số cây trồng có hiệu quả thấp. Thứ hai là chi phí sản xuất cao. Thứ ba là giá trị sản phẩm bán thấp so với mặt hàng cùng loại trên thế giới. Ngoài ra còn có lý do chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP).

Chính vì vậy, trong tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, chúng ta thay đổi các đối tượng cây trồng vậy nuôi, mà điều quan trọng nhất là nâng cao giá trị chất lượng trong đó có việc thay đổi cả thành phần cây trồng vật nuôi từ giá trị thấp sang cây có giá trị cao, đồng thời tìm biện pháp để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị sản phẩm thông qua giá trị xuất khẩu.

Sau một thời gian thực hiện quá trình này, chúng ta thấy sự tác động rất lớn, thay đổi nhận thức và năng lực của người dân trong việc lựa chọn thay đổi cơ cấu cây trồng và lựa chọn các giải pháp để hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt là việc ứng dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp, giải pháp về chuyển đổi diện tích đất để sản xuất ở quy mô lớn hơn và điều quan trọng mà người dân cũng nhận thức được là muốn sản xuất ổn định thì phải có thị trường tốt và bền vững. Yếu tố quyết định của thị trường ở đây là ngoài khả năng đáp ứng về số lượng thì yêu cầu về chất lượng là rất quan trọng. Nâng cao chất lượng mới nâng cao được giá trị và thị hiếu của người tiêu dùng. Dù không phải ở hầu hết các vùng nông thôn người nông dân hiểu được mục đích này, nhưng hầu hết đều đạt được nhận thức được rằng cần thị trường và hiểu được nhu cầu của thị trường như thế nào về mặt chất lượng để sản xuất. Như vậy, chúng ta có thể thấy được sự chuyển đổi rất nhanh của người nông dân khi có yêu cầu về thị trường có chất lượng cao.

Nguyễn văn A (35 tuổi), Hà Nội: cau 6

Ông Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT

Bên cạnh đó, về thành tựu, chúng ta cũng đã chuyển đổi được một phần cơ cấu sản xuất theo hướng nâng cao giá trị như từ trồng lúa chuyển sản trồng cây ăn quả hay rau màu có giá trị phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu. Thứ ba là chi phí khác biệt của chúng ta cũng đã giảm, sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường thế giới và chứng minh được năng lực của chúng ta trong việc điều tiết chi phí và chất lượng. Với những thành tựu bước đầu thì đây là những điểm đáng ghi nhận và đà tốt để tiếp tục phát triển đối với công cuộc tái cơ cấu.

Đối với vấn đề sản xuất nông sản an toàn, một trong những yêu cầu là nâng cao giá trị, nên có thể nói, sản phẩm an toàn không phải cái gì đó xa vời mà chính là một trong những thành tố tái cơ cấu nông nghiệp. Nên khi nói đến tái cơ cấu ngành Nông nghiệp là nói đến việc sản xuất ra những sản phẩm bảo đảm vệ sinh ATTP để nâng cao giá trị cạnh tranh được với những sản phẩm nhập ngoại khi đưa vào nước ta và giá cả sẽ được cải thiện, từ đó vươn ra thị trường thế giới. Về ATTP cũng được bảo đảm, đây là yêu cầu cấp thiết được đề ra trong nghị quyết của Đảng để cải thiện chất lượng cuộc sống. Chúng ta cũng biết, khi có đầy đủ nguồn lương thực, thực phẩm thì nhu cầu ăn ngon hơn và an toàn hơn và nếu không đáp ứng được yêu cầu này thì tự khắc không đáp ứng được yêu cầu của xã hội, không cạnh tranh được do hàng hóa bên ngoài tràn vào.

Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn một số tồn tại phải vượt qua. Tồn tại lớn nhất là sự chấp nhận và chọn lọc của xã hội chưa thực sự ủng hộ cho sản xuất nông sản an toàn, nên không mang lại giá trị gia tăng cao hơn so với các sản phẩm bình thường, vì thế chưa khuyến khích được sản xuất. Hai là cơ chế giám sát còn nhiều lỗ hổng. Chính vì vậy, việc một lô sản phẩm an toàn bán gần một lô sản phẩm không an toàn còn diễn ra. Điều này dẫn đến việc rất khó cho người tiêu dùng nhận diện sản phẩm an toàn. Do vậy, phải có hình thức quản lý tốt hơn về mặt quản lý thị trường làm sao để các sản phẩm đều được chứng nhận hoặc được bảo đảm về mặt chất lượng, có như vậy mới thúc đẩy được sản xuất.

Nguyễn văn A (35 tuổi), Hà Nội: câu 7

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Sản phẩm nông nghiệp từ việc sản xuất, lưu thông đến tay người tiêu dùng qua sự quản lý của 3 bộ:  Công thương, Y tế và NN và PTNT. Xin được hỏi ông Đỗ Hữu Dũng, Trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Thú y, đây là một trong những lĩnh vực vừa là sản xuất nông nghiệp sạch với yêu cầu cao, cũng là một trong những lĩnh vực mà vấn đề ATTP đặt ra nhiều thách thức, đề nghị anh Dũng đại diện Cục thú y cho ý kiến về vấn đề này?

Ông Đỗ Hữu Dũng, Trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Thú y

Ông Đỗ Hữu Dũng: Ngành Chăn nuôi của Việt Nam đang trên đà phát triển, tăng nhanh cả về số lượng cũng như quy mô đầu tư. Sản phẩm chăn nuôi không những từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn dành phục vụ xuất khẩu. Trong bối cảnh này, thách thức lớn nhất trong ngành Chăn nuôi là làm sao sản xuất được sản phẩm chất lượng với giá thành cạnh tranh, trong đó vấn đề bảo đảm ATTP nổi lên là một trong những thách thức lớn và thách thức trong mảng ATTP trong chăn nuôi chủ yếu là gắn với việc lạm dụng các hóa chất đầu vào.

Trong báo cáo "Quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam - những thách thức và cơ hội'' do Ngân hàng Thế giới trình bày trong hội thảo ngày hôm qua (27.3) dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đưa ra nhận định mà tôi thấy rằng đây là một đánh giá rất bao quát những thách thức liên quan đến ATTP trong lĩnh vực tiểu ngành Chăn nuôi, đó là hiện nay khung pháp lý ở Việt Nam về ATTP thì cũng đã được cải tiến rất nhiều. Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tiễn còn nhiều hạn chế. Và tôi xin mượn lời của báo cáo này để nói rằng vấn đề triển khai áp dụng khung khổ pháp lý đã được xây dựng hiện nay có thể được coi là thách thưc lớn nhất trong việc thực thi chính sách pháp luật để cải thiện tình trạng ATTP ở Việt Nam.

Nguyễn văn A (40 tuổi), Hà Nội: cau 9

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Bùi Sĩ Doanh, Phó cục trưởng (PCT)  Cục Bảo vệ Thực vật, Bộ NN và PTNT, để cử tri nhìn rõ hơn, cụ thể hơn việc tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển nông nghiệp sạch từ lĩnh vực bảo vệ thực vật, xin ông chia sẻ cách nhìn nhận, đánh giá của mình về vấn đề này?

Ông Bùi Sĩ Doanh, Phó cục trưởng Cục Bảo vệ Thực vật, Bộ NN và PTNT

PCT Bùi Sĩ Doanh: Rõ ràng mục tiêu của tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển nông nghiệp xanh là nâng cao hiệu quả sản xuất giá trị gia tăng, phát triển bền vững, đáp ứng được  yêu cầu của thị trường cũng như ATTP.

Dưới góc độ của lĩnh vực bảo vệ thực vật, cách tiếp cận hiện nay không phải là phòng trừ dịch hại mà là quản lý dịch hại sẽ phải được triển khai ngay từ khi sản xuất bao gồm từ biện pháp canh tác một cách hợp lý để hạn chế dịch hại, giống tốt có khả năng chống chịu sâu bệnh, làm sao hạn chế một cách thấp nhất việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm an toàn cho thực phẩm, cho giá trị thực phẩm cũng như môi trường sinh thái.

Thứ hai, phải triển khai các giải pháp sinh học, bao gồm các biện pháp về tác nhân sinh học từ thiên địch cho đến các thuốc sinh học. Thuốc sinh học có thể là vi sinh vật hoặc có nguồn gốc từ thực vật.

Thứ ba, phải đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ở đây bao gồm cả việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hóa dự tính, dự báo các sinh vật gây hại để đưa ra biện pháp phòng trừ một cách hiệu quả.

Cuối cùng, đối với lĩnh vực bảo vệ thực vật, phải giải quyết những hàng rào kỹ thuật về kiểm dịch, góp phần mở cửa thị trường, đưa nông sản Việt Nam ra quốc tế, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất.

Nguyễn văn A (40 tuổi), Hà Nội: câu 10

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Trong phát triển nông nghiệp sạch, thuốc bảo vệ thực vật là điều cần có thay đổi. Thưa ông Nguyễn Văn Sơn, với vai trò là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội doanh nghiệp Sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về vai trò thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong phát triển nền nông nghiệp sạch?

Ông Nguyễn Văn Sơn, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký

Hội doanh nghiệp Sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam

Ông Nguyễn Văn Sơn: Thuốc BVTV là những hợp chất nguồn gốc tự nhiên hoặc được tạo thành do quá trình tổng hợp hóa học dùng để phòng trừ các loại sinh vật có hại cho cây trồng và nông sản. Trên thế giới, thuốc BVTV đã được dùng nhiều thập kỷ nay. Ở Việt Nam, thuốc BVTV dùng hơn 60 năm rồi.

Dùng thuốc BVTV có khả năng mang lại lợi ích kinh tế, kỹ thuật cho nhà nông, có khả năng bảo vệ năng suất, chất lượng cây trồng, nông sản. Bên cạnh đó, thuốc BVTV có khả năng ngăn chặn dịch hại nhanh, hiệu quả, triệt để.

Theo thống kê của Tổ chức FAO: Năm 2015, trên thế giới đã chi 35 tỷ USD cho thuốc BVTV, đã cho thu lại số lượng và chất lượng nông sản không mất đi do sinh vật gây hại tương đương 350 tỷ USD.

Việt Nam là nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, tiềm ẩn nhiều sinh vật gây hại. Do đó, việc phát triển nông nghiệp sạch không thể không dùng thuốc BVTV được. Tuy nhiên, dùng thuốc BVTV gì, dùng như thế nào? Theo thống kê của Bộ NN và PTNT, niên vụ 2015-2016, cả nước sản xuất quy ra gạo là 28 triệu tấn. Nếu không có thuốc BVTV thì không có sản lượng đó, sẽ không có gạo xuất khẩu và dùng cho chăn nuôi. Và nếu không có thuốc BTVT thì sẽ mất ½ năng suất. Không có thuốc BTVT thì một số cây trồng như táo, nho sẽ không cho thu hoạch.

Vì vậy, để sản xuất nông nghiệp sạch xuất khẩu, tiêu dùng thì chúng ta phải sử dụng thuốc BTVT theo các tiêu chuẩn sản xuất nhất định như VietGAP. Đồng thời, khi sử dụng thuốc BVTV phải theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng lúc, đúng cách và đúng liều lượng, bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch nông sản.

Nguyễn văn A (38 tuổi), Hà Nội: câu 11

Nông nghiệp sạch- Những yếu tố tác động và mô hình phát triển

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Xin được hỏi ông Phạm Mạnh Cường: Tái cơ cấu nông nghiệp phải gắn với thị trường, gắn sản phẩm chất lượng, sản phẩm sạch, tuy nhiên lâu nay chúng ta chưa làm tốt điều này. Để phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam trên quy mô sản xuất hàng hóa lớn, làm thay đổi tập quán kinh tế của người dân mang lại hiệu quả kinh tế cao, Bộ NN - PTNT có những kiến nghị nào về chính sách chính sách pháp luật, thưa ông?

Ông Phạm Mạnh Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ,

Bộ NN và PTNT

PVT Phạm Mạnh Cường: Nhằm tháo gỡ những vướng mắc, tồn tại chúng ta đã nêu, để nông nghiệp Việt Nam cất cánh, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, tiếp thu ý kiến cử tri, doanh nghiệp cả nước, Bộ NN và PTNT đã đề xuất với Chính phủ, các bộ, ngành khẩn trương xem xét, sửa đổi bổ sung, ban hành một số chính sách mới như sau:

Trước hết là các chính sách tháo gỡ vướng mắc nút thắt về đất đai. Trong đó đề xuất rà soát các chính sách đất đai, tạo điều kiện cho tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền, tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Bộ NN và PTNT là đơn vị chủ trì phối hợp với các bộ, ngành khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn cấp giấy chứng nhận sử dụng đất gắn với tài sản trên đất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch bảo đảm tại ngân hàng thương mại.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện các chính sách đổi mới, phát triển, các chính sách, hình thức tổ chức kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, tuân thủ các quy định trong nước cũng như tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó, đẩy mạnh thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2012, khuyến khích phát triển các hình thức hợp tác, liên kết. Trong đó, xem doanh nghiệp là trọng tâm, các hợp tác xã là cầu nối giữa người sản xuất và doanh nghiệp, đẩy mạnh liên kết giữa 4 nhà là nhà nông, nhà nước, doanh nghiệp và nhà khoa học.

Thứ ba, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Bộ NN và PTNT đã kiến nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định 210 và các chính sách có liên quan theo hướng tạo điều kiện thông thoáng nhất để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch.

Thứ tư, đổi mới các chính sách về tín dụng. Bên cạnh xem xét sửa đổi Nghị định số 55 của Chính phủ và các thông tư liên quan về chính sách tín dụng cho nông nghiệp cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước có hướng dẫn cụ thể, chỉ đạo các ngân hàng thương mại làm sao tạo điều kiện thông thoáng cho người dân tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi, lãi suất thấp và mở rộng hình thức cho vay tín chấp, cũng như qua các dự án có hiệu quả kinh tế cao, các tài sản được hình thành qua quá trình phát triển dự án.

Vừa qua, cử tri cả nước và doanh nghiệp hân hoan chào đón và mong sớm tiếp cận được nguồn vốn trăm nghìn tỷ đồng mà Thủ tướng đã công bố. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan nghiên cứu xây dựng Nghị định của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Cuối cùng, chúng tôi cho rằng, cần phải đẩy mạnh lồng ghép, điều phối mạnh mẽ hơn nữa các chương trình, chủ trương chính sách, đặc biệt là các chương trình mục tiêu quốc gia, làm sao huy động được các nguồn lực lớn cho phát triển nông nghiệp.

Qua báo Đại biểu Nhân dân, chúng tôi vui mừng thông báo với các cử tri, doanh nghiệp, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2 vừa qua, Chính phủ đã thông qua nghị quyết phiên họp, trong đó thống nhất với các đề xuất của Bộ NN và PTNT và giao các bộ ngành, đơn vị khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản chính sách có liên quan. Hy vọng nửa đầu năm nay, phần lớn các chính sách này sẽ được Chính phủ xem xét, ban hành.

Nguyễn văn A (38 tuổi), Hà Nội: câu 12

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Từ phía doanh nghiệp, người sản xuất, thưa ông Ngô Minh Hải, ông có kiến nghị điều gì gỡ bỏ vướng mắc, thúc đẩy nông nghiệp sạch mở rộng và phát triển?

Ông Ngô Minh Hải, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn TH

Ông Ngô Minh Hải: Ông Cường cũng đã có phát biểu đầy đủ về mặt pháp lý trên góc độ Bộ NN và PTNT hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong con đường phát triển nông nghiệp sạch. Riêng đối với doanh nghiệp của chúng tôi thì vấn đề đặt ra làm thế nào để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nhiều lần công ty chúng tôi cũng đã có kiến nghị minh bạch hóa thị trường sữa, làm sao ghi trên nhãn mác những thành phần nguyên liệu đầu vào để người tiêu dùng đưa ra lựa chọn. Thực tế thị trường sữa hiện nay của chúng ta chưa có sự phân biệt rõ, chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị như vậy.

Có điều bất cập nữa là hiện nay chúng tôi thấy có 3 bộ quản lý, Bộ NN và PTNT thì quản lý chăn nuôi bò, Bộ Công thương quản lý kinh doanh sản phẩm, Bộ Y tế quản lý về chất lượng ATTP. Một lần nữa, chúng tôi mong muốn có thể minh bạch hóa nhãn mác bao bì sữa.

Nguyễn Thị Thu (31 tuổi), TP Hải Phòng (Thithu@gmail.com): Được biết, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật từ Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực tế trên, thưa Ông?

Nguyễn Thị Thu (31 tuổi), TP Hải Phòng, (Thithu@gmail.com): Được biết, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp nhập khẩu thuốc BVTV từ Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực tế trên, thưa Ông?

Ông Nguyễn Văn Sơn: Hiện nay, Việt Nam không chỉ nhập khẩu thuốc BVTV từ Trung Quốc mà đã nhập khẩu thuốc BVTV từ hơn 40 quốc gia. Tuy nhiên, lượng thuốc BVTV nhập từ Trung Quốc chiếm khối lượng nhiều nhất vì các lý do sau:

- Trung Quốc là quốc gia sản xuất thuốc BVTV với số lượng và khối rất lớn, gần như đầy đủ các loại hoạt chất và chất phụ gia để sản xuất thuốc BVTV.

- Hiện nay có nhiều Tập đoàn hóa chất đa quốc gia xây dựng nhà máy sản xuất và gia công thuốc BVTV tại Trung Quốc. Các doanh nghiệp Việt Nam mua thuốc của các công ty này đều có xuất xứ từ Trung Quốc.

- Giá thuốc BVTV nhập từ Trung Quốc thường rẻ hơn nhập từ Châu Âu , Mỹ, Nhật và các nước khác.

- Các Công ty thuốc BVTV của Trung Quốc thường cho các doanh nghiệp nhập khẩu thuốc BVTV của Việt Nam trả tiền chậm từ 30 ngày đến 90 ngày.

- Do Trung Quốc rất gần Việt Nam nên thời gian giao và nhận hàng thường nhanh, thuận lợi hơn và tránh được phải trả nhiều chi phí cho việc lưu kho bãi.

Tuy nhiên, Trung Quốc có rất nhiều các tập đoàn, Tổng công ty, Công ty sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV nên chất lượng sản phẩm cũng khác nhau. VIPA khuyến cáo các doanh nghiệp hội viên cần lựa chọn các Công ty sản xuất thuốc BVTV có uy tín , sản phẩm có chất lượng tốt để nhập khẩu. Ngoài ra các doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm nguồn hàng thuốc BVTV của các nước khác.

Hiện nay, tất cả các thuốc BVTV nhập khẩu vào Việt Nam đều phải được kiểm tra nhà nước 100% về chất lượng. Việc kiểm soát chất lượng thuốc BVTV được thực hiện chặt chẽ và thường xuyên, bảo đảm đúng quy định là chỉ có lô hàng thuốc BVTV đạt chất lượng nhập khẩu mới được phép đưa vào sử dụng, những lô hàng không đạt chất lượng sẽ buộc tái xuất. Vì các lý do đó chúng ta không cần phải phân biệt đối xử thuốc BVTV nhập khẩu từ quốc gia nào đến mà chỉ quan tâm là thuốc BVTV nhập khẩu đó phải đạt chất lượng nhập khẩu mới được phép nhập khẩu vào Việt Nam để sử dụng.

Lã Thu Huyền (45 tuổi), TP Thái Nguyên (huyenla24@gmail.com): Để phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường thì mô hình nông nghiệp sạch theo hướng bền vững là điều mà chúng ta đang hướng tới, thưa Ông?

Lã Thu Huyền (45 tuổi), TP Thái Nguyên, (huyenla24@gmail.com): Để phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường thì mô hình nông nghiệp sạch theo hướng bền vững là điều mà chúng ta đang hướng tới, thưa Ông?

PVT Phạm Mạnh Cường: Tôi cho rằng, hiện nay nông nghiệp sạch là đòi hỏi bức bách của cả nước và sẽ là tôn chỉ của ngành Nông nghiệp Việt Nam. Do vậy, Chính phủ cũng như Bộ NN và PTNN luôn khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân tham gia phát triển nông nghiệp sạch.

Nguyễn Nam, Hưng Yên, (lai45@gmail.com): Được biết, Công ty TNHH Thương mại và xuất nhập khẩu Biển Bạc có chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN. Ông có thể cho biết tính năng và tác dụng, lợi ích của chế phẩm này phục vụ trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản?

Ông Đoàn Quốc Việt, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và xuất nhập khẩu Biển Bạc

Ông Đoàn Quốc Việt: Những tính năng vượt trội của chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN do Công ty TNHH Thương mại và xuất nhập khẩu Biển Bạc cung cấp: Thứ nhất, chống được các chất axit của dạ dày để đi vào hệ thống tiêu hóa, bám vào các mô của thành ruột, sửa đổi các khiếm khuyết của hệ thống đường ruột, tạo cơ chế cạnh tranh và đào thải các vi khuẩn độc hại. Đồng thời, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn, tăng sức đề kháng, duy trì khả năng gen gốc, thân thiện với môi trường.

Thứ hai, khi sử dụng chế phẩm sẽ hạ giá thành sản xuất cho động vật từ 13-18%, cho thủy sản từ 15-20%, kéo ngắn thời gian nuôi, tăng trọng tốt, loại bỏ các loại kháng sinh và chất thải, thân thiện với môi trường.

Lê Mạnh Hùng (35 tuổi), Bạch Mai, TP Hà Nội (hungml55@gmail.com): 1- Từ góc độ quản lý, xin Ông cho biết, quy trình và lượng hóa chất nhập khẩu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trong thời gian gần đây ?

Lê Mạnh Hùng (35 tuổi), Bạch Mai, TP Hà Nội, (hungml55@gmail.com): Từ góc độ quản lý, xin Ông cho biết, quy trình và lượng hóa chất nhập khẩu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc BVTV trong thời gian gần đây?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Về nguyên tắc, tất cả các thuốc BVTV dùng để phòng trừ dịch hại thực vật tại Việt Nam phải đăng ký vào danh mục được phép sử dụng. Hàng năm, Bộ NN và PTNT ban hành danh mục các loại thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam và danh mục các loại thuốc cấm sử dụng tại Việt Nam.

Về quy trình đăng ký, cơ bản gồm 2 bước. Bước thứ nhất, đăng ký khảo nghiệm bao hồ sơ, kiểm tra, thẩm định hồ sơ để cấp giấy phép khảo nghiệm. Khi có giấy phép khảo nghiệm thì thực hiện khảo nghiệm thuốc trong điều kiện của Việt Nam. Bước này thông thường khoảng 1-2 năm.

Bước thứ hai, đăng ký vào danh mục, bao gồm nộp hồ sơ đăng ký (các kết quả khảo nghiệm ở Việt Nam), kiểm tra tính hợp lệ, thẩm định và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký. Từ đó, Bộ NN và PTNT đưa vào danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam. Thời gian của bước thứ 2 mất khoảng 6 tháng.

Danh mục thuốc BVTV của chúng ta hiện nay có 385 hoạt chất đơn với trên 4.000 tên thương mại. Về lượng thuốc nhập khẩu, từ năm 2012 đến nay, tổng lượng thuốc BVTV trên 100.000 tấn quy thành phẩm, với giá trị khoảng 740 triệu USD. Trong đó, 50% sử dụng phòng trừ dịch hại trong năm, còn lại là bảo quản, lưu thông và xuất khẩu. Cả nước hiện nay có 33 nghìn đại lý kinh doanh thuốc BVTV.

Hà Anh (31 tuổi), TP Hà Nội: Hiện nay trên thị trường đã xuất hiện hàng nhái TH chưa Ông ? nếu có thì TH sẽ có giải pháp gì ?

Hà Anh (31 tuổi), TP Hà Nội: Hiện nay trên thị trường đã xuất hiện hàng nhái TH chưa? Nếu có thì TH sẽ có giải pháp gì?

Ông Ngô Minh Hải: Chúng tôi chưa phát hiện hàng giả, hàng nhái TH.

Đinh Thành (32 tuổi), Xã Đàn, TP Hà Nội: Tôi từng thấy, Ông tham gia đoàn giám sát về an toàn thực phẩm của QH, qua giám sát, theo Ông thực phẩm nói riêng, sản phẩm nông nghiệp nói chung của chúng ta liệu đã đủ tiêu chí về “sạch” chưa, thưa Ông? Vì sao?

Đinh Thành (32 tuổi), Xã Đàn, TP Hà Nội: Xin hỏi ông Trương Minh Hoàng, tôi từng thấy, ông tham gia đoàn giám sát về ATTP của QH. Qua giám sát, theo ông thực phẩm nói riêng, sản phẩm nông nghiệp nói chung của chúng ta liệu đã đủ tiêu chí về “sạch” chưa, thưa ông? Vì sao?

PCN Trương Minh Hoàng: Có thể nói, qua giám sát nếu như tất cả sản phẩm của nông nghiệp nói chung đã đủ tiêu chí sạch chưa thì tôi cho rằng chưa. Cái chưa đã được chứng minh qua kết quả kiểm tra ở đâu cũng phát hiện một tỷ lệ nhất định về quy chuẩn thực phẩm sạch và có sử dụng chất cấm.

Ví dụ, trong trồng trọt qua kiểm tra năm 2011 - 2016 theo báo cáo của Bộ NN và PTNT cho thấy lượng thuốc BVTV tồn dư cho phép vượt ngưỡng 8,47%. Ngoài ra, qua kết quả kiểm tra cho thấy, mỗi một năm nước ta sử dụng trên 110 nghìn tấn thuốc BVTV, kích thích sinh trường, chất thải, các cơ sở, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất ở nông thôn cũng liền kề với các cơ sở trồng trọt chăn nuôi. Ở một môi trường như vậy thì điều gì sẽ xảy ra với việc trồng trọt, chăn nuôi... Đây là những điểm không bảo đảm an toàn, tác động đến đất, nước, quá trình trồng trọt chăn nuôi.

Đương nhiên, người tiêu dùng cũng không nên quá hoang mang, như tôi nói ở trên để làm được sản phẩm sạch không phải dễ nhưng không phải không làm được. Hiện nay, 63 tỉnh, thành phố đã hình thành được vùng rau sạch quy mô lớn, đã có sự tham gia của các doanh nghiệp uy tín. Nhưng người tiêu dùng muốn giữ được sản phẩm sạch thì phải cùng đồng hành, chia sẻ với doanh nghiệp mới duy trì được. Nhưng đồng thời cũng cần minh bạch trong quá trình sản xuất, tính minh bạch phải được công khai, được quản lý mới bảo vệ được người tiêu dùng.

Lê Huyền Thanh (56 tuổi), TP Hà Nội: Xin Ông chia sẻ về thực trạng rau củ quả đang lưu hành hiện nay trên thị trường được quản lý, lưu thông và sử dụng như thế nào ?

Lê Huyền Thanh (56 tuổi), TP Hà Nội: Xin được hỏi ông Nguyễn Hồng Sơn, xin ông chia sẻ về thực trạng rau củ quả đang lưu hành hiện nay trên thị trường được quản lý, lưu thông và sử dụng như thế nào?

CT Nguyễn Hồng Sơn: Hiện nay mặt hàng rau củ quả cũng được lưu thông như những mặt hàng khác thông qua hệ thống kênh phân phối khác nhau như siêu thị, cửa hàng bán lẻ. Một số địa phương cũng có chợ đầu mối để phân phối các mặt hàng này tới các chợ nhỏ lẻ như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng... Các sản phẩm này có thể được dán nhãn hoặc chưa dán nhãn. Thông thường các sản phẩm do các cơ sở tuân thủ các giám sát chất lượng như VietGAP hay rau an toàn, rau sạch đều được dán nhãn và một số cơ sở có mã vạch để người tiêu dùng có thể truy nguồn sản phẩm.

Việc quản lý chất lượng trước hết phụ thuộc vào sự tự giác chịu trách nhiệm chất lượng của các nhà sản xuất và nhà thương mại trước pháp luật về sự bảo đảm chất lượng trước khi lưu thông trên thị trường. Vì vậy, sự tự giác cũng như chủ động kiểm soát bảo đảm chất lượng và xây dựng thương hiệu là yếu tố quan trọng của các doanh nghiệp sản xuất. Các cơ quan quản lý thực hiện kiểm tra, kiểm soát định kỳ hoặc bất thường. Đối với mặt hàng rau củ quả nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo Điều 18 Nghị định 171 của Chính phủ.

Tuy nhiên để có sự minh bạch và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất và kinh doanh sản phẩm rau củ quả an toàn, trong thời gian tới cần tăng cường thêm công tác quản lý và đưa vào một số quy định bắt buộc như buộc dán nhãn. Theo đó, mọi sản phẩm lưu thông phải được dán nhã và chứng nhận bởi một tổ chức chứng nhận sản phẩm. Hiện tại, nền sản xuất của chúng ta chịu sự chi phối của hệ thống sản xuất nhỏ, manh mún và chưa đủ số lượng các tổ chức chứng nhận nên chưa đưa việc dán nhãn quản lý sản phẩm vào quy định bắt buộc.

Nguyễn Minh Nam (51 tuổi), Chương Mỹ: Tôi là nông dân, tôi không hiểu thế nào là nông nghiệp sạch. Vậy theo Ông, nền nông nghiệp sạch thì phải đáp ứng được tiêu chí nào?

Nguyễn Minh Nam (51 tuổi), Chương Mỹ: Tôi là nông dân, tôi không hiểu thế nào là nông nghiệp sạch. Vậy theo Ông, nền nông nghiệp sạch thì phải đáp ứng được tiêu chí nào?

PCN Trương Minh Hoàng: Nông nghiệp sạch phải theo một quy trình sản xuất chặt chẽ, đúng quy trình từ khâu chọn đất, nơi sản xuất, cơ sở vật chất ban đầu phải bảo đảm, chọn giống sạch... Đối với công đoạn sản xuất như đóng hộp, chế biến thì bảo biết rõ nguyên liệu đầu vào. Hai là quá trình chăm sóc phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật như cho phép sử dụng thuốc BVTV ở mức độ nào, bao lâu cắt thuốc để thu hoạch. Sản phẩm sạch và an toàn thì sản phẩm đó khi đưa đến tay người tiêu dùng phải không còn tồn dư chất BVTV vượt quá giới hạn cho phép và không được chứa tạp chất; không chứa các tác nhận sinh học gây bệnh như ký sinh trùng, vi sinh vật... Phải có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và hàng hóa phải được kiểm tra chứng nhận.

Để sản xuất nông nghiệp sạch thì không khó khăn nhưng làm được điều đó cũng không dễ dàng, mà phải bảo đảm được quy trình nghiêm ngặt, từ đó hướng tới phát triển nông nghiệp sạch theo hướng hiện đại. Đương nhiên về quy trình thực hiện nông nghiệp sạch thì còn nhiều bước cụ thể hơn, bạn đọc có thẻ tìm hiểu kỹ hơn qua các kênh thông tin đại chúng.

Lê Huyền, TP Hà Nội: Khái niệm về tiêu chuẩn VietGAP mấy năm trở lại đây được nhắc đến nhiều và được áp dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Khái niệm này có ý nghĩa gì trong phát triển nông nghiệp sạch hiện nay, thưa ông?

CT Nguyễn Hồng Sơn: VietGAP là một hệ thống hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt để các cơ sở sản xuất có thể tự khẳng định chất lượng trước khi đưa sản phẩm của mình vào thị trường không cần qua kiểm tra bằng các thiết bị phân tích. VietGAP cũng như các hệ thống GAP khác như ASEANGAP, GLOBALGAP ra đời trên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các tổ chức thương mại và các nhà sản xuất, cam kết cùng nhau tuân thủ quy trÌnh để khẳng định chất lượng ngay trong quá trình sản xuất, đặc biệt, đối với các sản phẩm tươi sống như rau củ quả. Vì nếu phải thực hiện quy trình phân tích chất lượng với từng lô hàng rất tốn kém về kinh phí và thời gian thực hiện.

Như vậy, VietGAP là một trong các công cụ để người sản xuất đạt được tiêu chuẩn chất lượng. Do đó, người sản xuất có thể áp dụng toàn bộ hoặc từng phần quy trình VietGAP phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn của các cơ sở sản xuất, năng lực quản lý và đối tượng cây trồng.

Thực tế nhiều doanh nghiệp và nông dân hiểu nhầm về VietGAP như một công cụ giám sát chất lượng của Nhà nước nên cho rằng cứ đạt được tiêu chuẩn VietGAP là bảo đảm hợp pháp về chất lượng. Như đã nói, VietGAP chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ vẫn là sự tự giác và sử dụng VietGAP như một công cụ để xây dựng thương hiệu. Đặc biệt đối với các tổ chức kinh doanh nông sản, khi có công cụ này các tổ chức sẽ đặt đầu bài ký hợp đồng và giám sát việc thực hiện quy trình sản xuất của các nhà sản xuất thông qua hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ và độc lập do chính doanh nghiệp thuê thực hiện.

Trần Trung Nam (30 tuổi), Hà Tĩnh: Để có được những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng người tiêu dùng TH đã đầu tư áp dụng công nghệ nào trong sản xuất thưa Ông ?

Trần Trung Nam (30 tuổi), Hà Tĩnh: Xin được hỏi ông ngô Minh Hải, để có được những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng người tiêu dùng, TH đã đầu tư áp dụng công nghệ nào trong sản xuất thưa ông?

Ông Ngô Minh Hải: Bà Thái Hương- Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TH đã áp dụng chiến lược Tài nguyên thiên nhiên Việt kết hợp với Trí tuệ Việt và Công nghệ đầu cuối của thế giới (gồm khoa học Công nghệ sản xuất và khoa học quản trị) để xây dựng các dự án đầu tư trong nông nghiệp của TH. Theo chiến lược đó, chúng tôi chủ động đi tắt đón đầu, sử dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để sản xuất trên đồng đất Việt Nam. Khi áp dụng công nghệ cao, chúng ta sẽ bảo đảm các chỉ tiêu chất lượng, sản lượng, xây dựng các tiêu chuẩn sản xuất ở trình độ quốc tế, quy mô sản xuất lớn, tạo ra nông sản hàng hóa có sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.

TH áp dụng hệ thống phần mềm quản lý đàn AfiFarm của Afikim.

Bò được đeo thẻ chip ở chân để giám sát chặt chẽ về sức khỏe,

sự thoải mái và sản lượng sữa (Nguồn: thmilk.vn)

Lê Thị Bình (28 tuổi), TP Hà Nội: Xin Ông, cho biết đến nay TH đã có những dòng sản phẩm sạch nào để cung cấp cho người tiêu dùng ?

Lê Thị Bình (28 tuổi), TP Hà Nội: Xin ông cho biết, đến nay, TH đã có những dòng sản phẩm sạch nào để cung cấp cho người tiêu dùng?

Ông Ngô Minh Hải: Tập đoàn TH đầu tư trên nhiều lĩnh vực, trong đó định hướng mạnh mẽ sản xuất rau quả, dược liệu và sữa sạch. Có thể kể tới một số sản phẩm như: sản phẩm sữa mang thương hiệu TH True Milk. Dự án sữa TH đã phát triển 55 sản phẩm mang thương hiệu TH gồm: sữa tươi thanh trùng, tiệt trùng, sữa chua các loại; sữa bổ sung vi chất dinh dưỡng, kem, bơ, phomat… Sản phẩm rau mang thương hiệu FVF gồm 6 nhóm rau: Nhóm rau ăn lá ngọn; Nhóm rau ăn thân hoa; Nhóm rau ăn củ quả; Nhóm rau gia vị; Nhóm rau mầm; Nhóm hoa quả với hơn 100 loại sản phẩm dược liệu/nước uống dược liệu mang thương hiệu TH herbals. Trang trại dược liệu TH đã sản xuất được 5 nguyên liệu hữu cơ gồm quả gấc, rau má, lá hồng, quả hồng và lạc tiên xuất khẩu sang thị trường Mỹ để sản xuất dòng sản phẩm Total Happiness Naturals. Hiện tại, TH đã khởi công Dự án rau củ quả hữu cơ và lúa chất lượng cao ở Thái Bình. Trong tương lai, chúng tôi sẽ đẩy mạnh cung cấp nhiều loại hoa quả đặc sản của Việt Nam và cung cấp lúa gạo sạch, hữu cơ cho thị trường trong nước và quốc tế.

Nguyễn Mạnh Tú (29 tuổi), Ninh Bình (manhtu86@yahoo.com): Trước sự cạnh tranh từ các thị trường nông sản, tại diễn đàn QH, nhiều ĐBQH cho rằng để tạo được chỗ đứng của nông sản Việt, thì chúng ta phải xây dựng nền nông nghiệp sạch. Quan điểm của Ông về vấn đề này như thế nào?

Nguyễn Mạnh Tú (29 tuổi), Ninh Bình, (manhtu86@yahoo.com): Thưa ông Trương Minh Hoàng, trước sự cạnh tranh từ các thị trường nông sản, tại diễn đàn QH, nhiều ĐBQH cho rằng để tạo được chỗ đứng của nông sản Việt thì chúng ta phải xây dựng nền nông nghiệp sạch. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

PCN Trương Minh Hoàng: Thực tế để có chỗ đứng của nông sản Việt Nam thì không chỉ dừng lại ở nông nghiệp sạch mà còn là an toàn về chất lượng sản phẩm. Sản phẩm đó phải an toàn và đạt được chất lượng và chú trọng người tiêu dùng, vì người tiêu dùng hiện nay rất đa dạng, vừa có người thu nhập cao, thu nhập thấp, có người giàu và người nghèo. Do vậy, phải chú trọng đến túi tiền của họ.

Nếu làm ra được một sản phẩm sạch thì rất tốn kém từ khâu chọn giống, nhân giống... sử dụng nhiều công lao động nên giá thành cao nên làm sao phải tính toán cũng sản xuất ra sản phẩm sạch nhưng phải đa dạng, phù hợp với người tiêu dùng. Ví dụ, vừa qua chúng tôi vừa đi khảo sát một cơ sở sản xuất lợn, họ có trang trại 1.000 lợn nái và 6.000 lợn thịt và cơ sở giết mổ một ngày khoảng 500 con. Cơ sở sản xuất như vậy thì phải sử dụng nguồn nước, trang trại đủ chuẩn để làm ra sản phẩm sạch. Họ hướng đến người tiêu dùng nên họ làm ra nhiều loại sản phẩm có giá trị khác nhau, với giá khởi điểm chỉ vài chục nghìn đến giá đóng gói vài trăm nghìn. Tôi nghĩ, các rau cũng tính đến hướng này với hạn sử dụng linh hoạt với giá thành khác nhau. Đây là sự đồng hành với người tiêu dùng chứ không chỉ tính lợii ích của người sản xuất. Và như vậy thực phẩm bẩn sẽ không có chỗ đứng trên thị trường.

Trần Văn Hùng (35 tuổi), Ninh Bình: Từ lĩnh vực nguồn quản lý sản xuất, để siêu thị và các đại lý bán rau tuân thủ đúng yêu cầu nhằm đáp ứng rau sạch cho người tiêu dùng thì cần có quy định và chế tài gì ?. Nếu siêu thị và các đại lý bán rau bị phát hiện bán rau bẩn thì nên xử lý cá nhân nào thưa Ông?

Trần Văn Hùng (35 tuổi), Ninh Bình: Từ lĩnh vực nguồn quản lý sản xuất, để siêu thị và các đại lý bán rau tuân thủ đúng yêu cầu nhằm đáp ứng rau sạch cho người tiêu dùng thì cần có quy định và chế tài gì?. Nếu siêu thị và các đại lý bán rau bị phát hiện bán rau bẩn thì nên xử lý cá nhân nào thưa ông Nguyễn Hồng Sơn?

CT Nguyễn Hồng Sơn: Việc áp dụng các biện pháp thanh tra, kiểm tra thường xuyên và xử lý các đơn vị vi phạm theo Điều 18 của Nghị định 171 của Chính phủ là cần thiết. Vì vậy, các cơ quan quản lý cần tăng cường thực hiện thường xuyên hơn. Do hệ thống sản xuất nhỏ, manh mún và nhiều tổ chức, cá nhân tham gia tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nên việc thanh kiểm tra sẽ trở nên quá tải nếu không thay đổi hình thức thanh kiểm tra. Trong thời gian tới, cần phải tăng cường tuyên truyền để các tổ chức kinh doanh nông sản đăng ký với các tổ chức chứng nhận để được chứng nhận chất lượng và dán nhãn sản phẩm. Tuy nhiên, để thay đổi một cách căn bản cần có giải pháp giảm bớt đầu mối tiêu thụ sản phẩm thông qua liên kết theo chuỗi giá trị và chia sẻ lợi nhuận giữa người sản xuất và người kinh doanh. Về việc xử phạt đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm, theo quy định phải xử lý cả hai trong trường hợp có thể truy nguyên được nguồn gốc. Nếu không truy nguyên được nguồn gốc thì tổ chức cá nhân trực tiếp tiêu thụ, phân phối sản phẩm phải chịu trách nhiệm về chất lượng trước người tiêu dùng. Từ kinh nghiệm này cho thấy, trong tương lai cần tăng cường nhận thức, năng lực và trách nhiệm của người cung ứng sản phẩm thay vì hiện nay đang tập trung nhiều vào nâng cao năng lực nhận thức của người nông dân.

Nguyên Hà Bắc (40 tuổi), Yên Bái: Thưa Ông, Việt Nam có ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản lớn, với nhiều chủng loại vật nuôi được chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình. Để giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận, nhiều nông dân đã sử dụng thuốc kháng sinh để ngừa dịch bệnh cho vật nuôi. Theo đó, dư lượng kháng sinh cao có trong thức ăn chăn nuôi là rào cản cho các nhà xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam có thể tiếp cận được thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Vậy với việc sử dụng chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN có hạn chế lạm dụng thuốc kháng sinh và các phụ gia độc hại, từ đó nâng cao chất lượng xuất khẩu mặt hàng này ?

Nguyên Hà Bắc (40 tuổi), Yên Bái: Thưa Ông, Việt Nam có ngành Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản lớn, với nhiều chủng loại vật nuôi được chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình. Để giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận, nhiều nông dân đã sử dụng thuốc kháng sinh để ngừa dịch bệnh cho vật nuôi. Theo đó, dư lượng kháng sinh cao có trong thức ăn chăn nuôi là rào cản cho các nhà xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam có thể tiếp cận được thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Vậy với việc sử dụng chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN có hạn chế lạm dụng thuốc kháng sinh và các phụ gia độc hại, từ đó nâng cao chất lượng xuất khẩu mặt hàng này?

Ông Đoàn Quốc Việt: Chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN được cấu thành bởi những vi khuẩn, vi sinh vật, bào tử bền nhiệt. Đó là sản phẩm đã được châu Âu ứng dụng và cho phép lưu hành từ năm 1995 để thay thế thức ăn kháng sinh cho động vật và thủy sản. Bởi vậy, chế phẩm PROBIOTIC BIOLIN khi sử dụng sẽ loại bỏ không sử dụng thuốc kháng sinh. Khi sử dụng sản phẩm này, gia súc, gia cầm và thủy sản sẽ cho chất lượng thịt sạch, không có các thành phần kim loại và kháng sinh tồn dư, tăng sức đề kháng và khả năng phát triển cho vật nuôi, tiết kiệm thức ăn và hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Sản phẩm đã được chứng minh qua kiểm tra về chất lượng của gà đồi Yên Thế tại Singapore năm 2013 và đạt một trong 4 thực phẩm sạch của Liên minh ASEAN.

Nguyễn Thùy Linh (41 tuổi), Nghệ An: Thực tế ở một số địa phương có những mô hình đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như trồng hoa, rau sạch, chuối xuất khẩu, nuôi bò… nhưng số lượng còn ít và doanh nghiệp tham gia phát triển nông nghiệp công nghệ cao chưa phổ biến, còn chần chừ, chưa thật sự “xắn tay” nhảy vào. Vậy theo ông vướng mắc ở đây là gì?

Nguyễn Thùy Linh (41 tuổi), Nghệ An: Xin được hỏi ông Phạm Mạnh Cường, thực tế ở một số địa phương có những mô hình đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như trồng hoa, rau sạch, chuối xuất khẩu, nuôi bò… nhưng số lượng còn ít và doanh nghiệp tham gia phát triển nông nghiệp công nghệ cao chưa phổ biến, còn chần chừ, chưa thật sự “xắn tay” nhảy vào. Vậy theo ông vướng mắc ở đây là gì?

PVT Phạm Mạnh Cường: Việc đẩy mạnh áp dụng KHCN đặc biệt là công nghệ cao trong nông nghiệp được coi là một trong những khâu đột phá để tạo ra những sản phẩm chuyên biệt, nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh và sự phát triển bền vững của nông nghiệp nước ta. Trong thời gian vừa qua đã có một số DN tham gia vào phát triển và ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, có một số mô hình đã được triển khai ở các tỉnh. Tuy nhiên, số lượng DN và mô hình còn ít, tính lan tỏa chưa cao. Tôi cho rằng có một số khó khăn, vướng mắc:

Trước hết là vướng mắc về đất đai. DN rất khó có thể tự mình đi đàm phán với các hộ gia đình để thuê lại đất và mở rộng quy mô sản xuất. Chi phí cho việc tích tụ ruộng đất quá cao. Bên cạnh đó thì hạn mức sử dụng đất hiện nay cũng chưa tạo điều kiện để các DN nông nghiệp công nghệ cao có thể sản xuất trên quy mô lớn.

Thứ hai, các chính sách hiện hành chưa thực sự hấp dẫn, thúc đẩy các DN đầu tư và an tâm đầu tư trong nông nghiệp. Các thủ tục vẫn còn rườm rà, phức tạp, tốn nhiều công sức của DN.

Thứ ba, việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi còn nhiều khó khăn. Hình thức vay tín chấp và việc áp dụng thế chấp tài sản trên đất còn rất hạn chế.

Thứ tư, chưa có các chính sách về bảo hiểm nông nghiệp.

Thứ năm, có những chỗ chính quyền địa phương chưa vào cuộc quyết liệt để hỗ trợ cho các DN trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Nguyễn Văn Hà (32 tuổi), Quảng Bình: Theo Ông, có nên hạn chế nhập khẩu thuốc BVTVvà nguyên liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, nhất là nguồn gốc vô cơ ?

Nguyễn Văn Hà (32 tuổi), Quảng Bình: Theo Ông, có nên hạn chế nhập khẩu thuốc BVTV và nguyên liệu sản xuất thuốc BVTV, nhất là nguồn gốc vô cơ?

Ông Nguyễn Văn Sơn: Khối lượng, chủng loại thuốc BVTV nhập khẩu phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng để bảo vệ, sản xuất nông nghiệp và do thị trường quyết định. Hiện nay, Việt Nam chưa sản xuất được hoạt chất thuốc BVTV hoặc thuốc BVTV kỹ thuật do vậy hầu hết các thuốc BVTV sử dụng ở Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Israel, Tây Ban Nha, Ý...

Mặt khác, hầu hết các thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học có độ độc cao, nguy cơ về ATTP và Môi trường đang được rà soát loại bỏ theo đúng qui định hiện hành. Tất cả các thuốc BVTV nhập khẩu vào nước ta phải được kiểm tra nhà nước 100% về chất lượng. Việc kiểm soát chất lượng thuốc BVTV được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên, bảo đảm đúng quy định chỉ có lô hàng thuốc BVTV đạt chất lượng nhập khẩu mới được phép đưa vào sử dụng, những lô hàng không đạt chất lượng sẽ buộc tái xuất và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính phủ.

Phương Nam (36 tuổi), TP Hà Nội: Trong sản xuất và lưu thông, nhiều người không khỏi lo lắng trước thực tế thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục vẫn nhập lậu ồ ạt và chưa thể kiểm soát nổi, đâu là nguyên nhân của thực trạng này, thưa Ông ?

Phương Nam (36 tuổi), TP Hà Nội: Trong sản xuất và lưu thông, nhiều người không khỏi lo lắng trước thực tế thuốc BVTV ngoài danh mục vẫn nhập lậu ồ ạt và chưa thể kiểm soát nổi, đâu là nguyên nhân của thực trạng này, thưa ông Doanh?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Trước hết, chúng ta phải xem xét lại “việc nhập lậu ồ ạt”, cần phải đánh giá đúng thực trạng thì chúng ta mới có các biện pháp xử lý đúng. Nếu nhận định chủ quan mà chưa có các căn cứ có thể gây hoang mang cho người sản xuất, người tiêu dùng nông sản và ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản.

Trong thực tế, việc nhập lậu thuốc BVTV là có. Thường là nhập lậu qua đường mòn, lối mở ở các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Cao Bằng... Về chủng loại, chủ yếu là thuốc chín hoa quả, thuốc làm giá đỗ, thuốc trừ cỏ, trừ sâu và trừ chuột bằng tiếng Trung Quốc. Có những sản phẩm họ dịch sang tiếng Việt. Đây là những sản phẩm không có trong danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam nên nó không có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm hiệu quả phòng trừ và an toàn khi sử dụng. Việc tiêu thụ các sản phẩm này chủ yếu ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, số ít ở vùng đồng bằng. Buôn bán thì lén lút.

Năm 2016, Cục BVTV theo chỉ đạo của Bộ NN và PTNT đã phối hợp với các cơ quan chức năng làm mạnh mẽ, khẳng định không có thuốc BVTV nhập lậu với lượng lớn mà chỉ mang vác nhỏ lẻ. Thực tế những năm vừa qua, các tỉnh rất ngại thu giữ các thuốc BVTV nhập lậu bởi gây ô nhiễm cho các khu vực thu giữ. Nếu theo quy định của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, khi thuốc nhập lậu bị bắt giữ nếu xác định được chủ hàng thì chủ hàng phải chịu trách nhiệm tiêu hủy. Nhưng nếu không bắt được chủ hàng, thì chính quyền địa phương phải bỏ kinh phí tiêu hủy. Đây là trở ngại cho việc bắt giữ thuốc BVTV nhập lậu. Khắc phục điều này, từ năm 2016, Cục BVTV đã yêu cầu các tỉnh bắt giữ thuốc nhập lậu và chuyển về Cục để Cục xử lý, tiêu hủy.

Năm 2016, cả nước thu giữ được 7,1 tấn và Cục đã tiêu hủy 5 tấn bằng kinh phí của Cục. Chính chủ trương này mà các tỉnh đã quyết liệt trong việc bắt giữ thuốc BVTV nhập lậu từ năm 2016 đến nay. Công tác tuyên truyền về vấn đề này ở các địa phương còn hạn chế trong việc để người dân nhận thức đúng việc không buôn bán, vận chuyển, sử dụng thuốc BVTV nhập lậu.

Văn Sang (30 tuổi), TP Hà Nội: Xuất phát từ tâm nguyện đưa những sản phẩm tốt nhất về sinh học đến bà con chăn nuôi cả nước, vì 1 nền nông nghiệp Sạch của Việt Nam, nhưng với những người nông dân có thu nhập thấp nếu muốn có chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN để sử dụng trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thì phía nhà sản xuất có những giải pháp hỗ trợ nào, thưa Ông ?

Văn Sang (30 tuổi), TP Hà Nội: Xuất phát từ tâm nguyện đưa những sản phẩm tốt nhất về sinh học đến bà con chăn nuôi cả nước, vì 1 nền nông nghiệp sạch của Việt Nam, nhưng với những người nông dân có thu nhập thấp nếu muốn có chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN để sử dụng trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thì phía nhà sản xuất có những giải pháp hỗ trợ nào, thưa ông Việt?

Ông Đoàn Quốc Việt: Đây chính là câu hỏi mà chúng tôi đã có phương án giải đáp nhằm hỗ trợ cho người chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Việt Nam. Trên thực tế của chăn nuôi và nuôi trồng Việt Nam để tính chi phí thì mỗi cá thể gia cầm hay thủy sản, số lượng đầu tư chế phẩm với giá thành rất nhỏ, bởi sản phẩm chế phẩm sinh học PROBIOTIC BIOLIN đã được Công ty quy hoạch hạ giá thành sản phẩm so với giá thành của châu Âu cho từng loại động vật.

Ví dụ như giá cho gà đồi Yên Thế, chi phí cho chế phẩm là 2.000 đồng/ con; cho tôm, cá trung bình khoảng 2.000-2.500 đồng/kg; cho lợn thương phẩm là 90.000 đồng/con. Ngoài ra, công ty luôn đồng hành cùng người nông dân trong suốt quá trình chăn nuôi để chứng minh chất lượng sản phẩm cũng như chất lượng các loại thịt, nâng cao nhận thức của người chăn nuôi.

Thanh Hương (29 tuổi), Đã Nẵng: Trước vấn nạn hàng nhái, hàng giả nhãn hiệu hàng hóa, xuất xứ, hoặc hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường… để đối phó với những tình huống này, Công ty đã có giải pháp nào, thưa Ông ?

Thanh Hương (29 tuổi), Đã Nẵng: Trước vấn nạn hàng nhái, hàng giả nhãn hiệu hàng hóa, xuất xứ, hoặc hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường… để đối phó với những tình huống này, Công ty Biển Bạc đã có giải pháp nào, thưa Ông?

Ông Đoàn Quốc Việt: Để tránh tình trạng hàng nhái, hàng giả nhãn hiệu hàng hóa, xuất xứ, hoặc hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường, Công ty TNHH Thương mại và Xuất nhập khẩu Biển Bạc đã đăng ký bảo vệ thương hiệu, đăng ký mã vạch cho từng sản phẩm và vỏ bao bì. Đồng thời, công ty loại bỏ chính sách đại lý và trực tiếp trao hàng tới tận tay các doanh nghiệp hoặc các chủ trang trại chăn nuôi.

Trần Mạnh Quyết (40 tuổi), Mộc Châu: Thuốc BVTV nhập lậu gây ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sx kd thuốc BVTV trong nước?

Trần Mạnh Quyết (40 tuổi), Mộc Châu: Thưa ông Nguyễn Văn Sơn, thuốc BVTV nhập lậu gây ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc BVTV trong nước?

Ông Nguyễn Văn Sơn: Theo thông tin của Cục BVTV cho biết, các loại thuốc BVTV không rõ nguồn gốc, không rõ chất lượng nhập lậu chỉ xảy ra ở một số địa phương với số lượng rất ít, nhỏ lẻ và buôn bán không công khai. Tuy nhiên, dù nhập lậu với số lượng nhỏ lẻ cũng gây ra những ảnh hưởng xấu cho doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV làm ăn chân chính. Thuốc BVTV nhập lậu gây thiệt hại kinh tế cho các doanh nghiệp do phải đầu tư nhiều kinh phí cho việc xây dựng nhà xưởng, máy móc, phòng thí nghiệm, tìm kiếm, đăng ký sản phẩm, quảng cáo, hội thảo và nhiều khoản chi phí khác. Thuốc BVTV nhập lậu thì không phải đầu tư, ít chi phí, đương nhiên bán phá giá. Nhà nước cũng không thu được các loại thuế.

Nhiều loại thuốc BVTV nhập lậu không rõ nguồn gốc, có độ độc cao, chất lượng kém gây ảnh hưởng đến sức khỏe người, sinh vật có ích và môi trường, gây nên tâm lý hoang mang lo sợ tác hại của thuốc BVTV cho cộng đồng, tạo ra tư tưởng kỳ thị, bài xích thuốc BVTV, gây ảnh hưởng xấu cho những doanh nghiệp thuốc BVTV làm ăn chân chính. Sử dụng thuốc nhập lậu, thuốc ngoài danh mục còn ảnh hưởng đến việc xuất khẩu nông sản.

Theo ý kiến của chúng tôi hệ thống thanh tra chuyên ngành BVTV từ trung ương đến địa phương cần phối hợp chặt trẽ với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý triệt để mọi hình thức nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng các loại thuốc BVTV không rõ nguồn gốc, không rõ chất lượng, trái quy định và xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Thúy Anh (27 tuổi), TP Hà Nội: Thưa Ông, trước đây, các siêu thị lớn thường là những địa chỉ tin cậy cho người tiêu dùng khi lựa chọn rau sạch. Nhưng câu chuyện hô biến rau bẩn thành rau sạch rồi tuồn vào các siêu thị không còn là chuyện mới mẻ. Đây là vấn đề quản lý lưu thông hàng hóa, từ góc độ nông nghiệp phát triển nông thôn, theo Ông có biện pháp nào để kiểm soát và xử lý những chiêu trò như thế này?

Thúy Anh (27 tuổi), TP Hà Nội: Thưa Ông, trước đây, các siêu thị lớn thường là những địa chỉ tin cậy cho người tiêu dùng khi lựa chọn rau sạch. Nhưng câu chuyện hô biến rau bẩn thành rau sạch rồi tuồn vào các siêu thị không còn là chuyện mới mẻ. Đây là vấn đề quản lý lưu thông hàng hóa. Từ góc độ nông nghiệp phát triển nông thôn, theo ông có biện pháp nào để kiểm soát và xử lý những chiêu trò như thế này?

CT Nguyễn Hồng Sơn: Có thể nói, việc kiểm soát chất lượng của siêu thị cũng phải như việc kiểm soát chất lượng sản phẩm như các điểm kinh doanh khác. Một số khách hàng, người tiêu dùng có thể thấy mặt hàng được bày trong siêu thị với các quầy hàng sạch, đẹp nên có niềm tin cao. Tuy nhiên đây chỉ là điều kiện cần để các siêu thị nhanh chóng tạo được niềm tin của khách hàng; điều kiện đủ phải là sự chủ động xây dựng thương hiệu của mọi tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh trong đó có siêu thị. Ngay cả việc được cấp các chứng nhận an toàn không đồng nghĩa với việc khẳng định được chất lượng của sản phẩm mà chỉ là công cụ hỗ trợ để các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu. Bởi các chứng nhận này đều do các tổ chức xã hội hóa cấp. Do vậy, lần nữa qua câu chuyện này cho thấy, mọi chứng nhận hoặc công cụ giám sát chỉ là công cụ hỗ trợ. Điểm mấu chốt vẫn là sự tự giác xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp.

Về góc độ quản lý, cần kiểm soát trong tất cả các khâu, không phải đồng nghĩa cứ vào siêu thị là sản phẩm sẽ an toàn. Thậm chí phải xử lý nghiêm minh hơn (tức là xử phạt ở mức cao nhất) với các tổ chức, cá nhân dễ dàng lạm dụng niềm tin của khách hàng.

Anh Khang (51 tuổi), Hải Dương: Hiện nay, miền Bắc có nhiều sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất chưa tương xứng, đặc biệt trong trồng trọt còn ít mô hình tiên tiến. Theo Ông, đâu là giải pháp thúc đẩy phát triển?

Anh Khang (51 tuổi), Hải Dương: Hiện nay, miền Bắc có nhiều sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, việc ứng dụng KHCN vào sản xuất chưa tương xứng, đặc biệt trong trồng trọt còn ít mô hình tiên tiến. Theo ông Nguyễn Hồng Sơn, đâu là giải pháp thúc đẩy phát triển?

CT Nguyễn Hồng Sơn: Đúng như vậy, có rất nhiều mô hình canh tác có giá trị kinh tế cao nhưng việc ứng dụng KHCN chưa tương xứng vì chưa có đầu ra ổn định, tổ chức tiêu thụ đặt hàng theo mức chất lượng và giá cả tương xứng nên việc đầu tư KHCN mức cao dẫn đến chi phí cao và khó tiêu thụ sản phẩm.

Thứ hai, việc ứng dụng KHCN tiên tiến cần áp dụng trên quy mô lớn không áp dụng được trên quy mô nhỏ lẻ nên chỉ có thể tiến hành khi có sự tham gia của doanh nghiệp hoặc có sự liên kết của doanh nghiệp với nông dân. Ngay cả việc ứng dụng công nghệ cao cũng phải dựa trên công nghệ và quy mô mà doanh nghiệp lựa chọn mà không thể quy hoạch khi doanh nghiệp không có nhu cầu. Thực tế nếu có những liên kết và đặt hàng của thị trường ổn định sẽ hình thành được mô hình ứng dụng tiên tiến tốt như mô hình sản xuất cà rốt xuất khẩu ở Hải Dương hay mô hình trồng rau an toàn ở Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam... để cung cấp cho các siêu thị và phục vụ xuất khẩu.

Tóm lại, đầu ra và liên kết sản xuất là 2 điều kiện tiên quyết tạo động lực cho ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất tiên tiến. Hiện nay đã có một số mô hình xây dựng nhằm nâng cao năng lực người dân để khi có yêu cầu của thị trường thì người dân có thể tiếp cận ngay còn nếu muốn nhân rộng và duy trì ổn định thì cần có yêu cầu đặt hàng từ thị trường.

Nguyễn Thanh Huyền (29 tuổi), TP Hà Nội: Theo Ông, phát triển nông nghiệp sạch thì nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

Nguyễn Thanh Huyền (29 tuổi), TP Hà Nội: Thưa ông Doanh, phát triển nông nghiệp sạch thì nhu cầu sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Nông nghiệp sạch trong trường hợp bắt buộc sử dụng thuốc BVTV nên sử dụng các thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học có trong danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam. Đồng thời thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng về sử dụng thuốc. Nhu cầu này trong trồng trọt và bảo vệ sản xuất ở nước ta, thì các doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV ở trong nước, bao gồm cả các công ty đa quốc gia hoàn toàn có thể đáp ứng các yêu cầu. Hiện nay, có khoảng 10% thuốc BVTV sinh học sử dụng trong bảo vệ sản xuất ở nước ta. Thực tiễn, việc sử dụng thuốc BVTV sinh học đang là vấn đề khó khăn bởi hiệu lực không thể hiện được ngay, mà qua một thời gian. Mặt khác, việc bảo quản thuốc sinh học, đặc biệt là các thuốc có nguồn gốc sinh vật có yêu cầu hết sức khắt khe. Đây là một trở ngại cho việc thúc đẩy sử dụng thuốc BVTV sinh học ở nước ta. Nhưng điều này hoàn toàn có thể khắc phục được. Cùng với các cơ quan chuyên môn, các doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV phải có trách nhiệm tuyên truyền, khuyến cáo để người dân sử dụng thuốc sinh học bảo đảm bảo vệ sản xuất an toàn đối với người sử dụng nông sản và bảo vệ môi trường.

Trung Bắc (29 tuổi), Nam Từ Liêm, HN: Thưa Ông, Việt Nam có chủ động sản xuất được các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học đáp ứng nhu cầu trong nước hay vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu ?

Trung Bắc (29 tuổi), Nam Từ Liêm, HN: Thưa Ông, Việt Nam có chủ động sản xuất được các loại thuốc BVTV sinh học đáp ứng nhu cầu trong nước hay vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Thực tế, thuốc BVTV là ngành kinh doanh có điều kiện và hạn chế kinh doanh. Tất cả các nước trên thế giới, thuốc BVTV không phải là lĩnh vực khuyến khích sản xuất, mở rộng. Tuy nhiên, đối với thuốc sinh học thì chúng ta khuyến khích các doanh nghiệp trong nước, các cơ sở nghiên cứu đầu tư, sản xuất. Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được thuốc sinh học. Thực tế, đã có nhiều cơ sở ở Việt Nam đăng ký thuốc BVTV sinh học trong danh mục được phép sử dụng, đưa vào sản xuất như Viện Bảo vệ thực vật, Viện Lâm nghiệp, Viện Lúa ĐBSCL... Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập, các doanh nghiệp đa quốc gia về thuốc BVTV có mặt ở Việt Nam rất nhiều. Việc sản xuất trong nước hay nhập khẩu không phải là vấn đề. Vấn đề là giá cả và hiệu quả phòng trừ dịch hại của sản phẩm.

Hà Thành, TP Vinh: Một trong những yêu cầu để phát triển nền nông nghiệp sạch bền vững thì cần phải ứng dụng công nghệ cao và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp chưa mặn mà. Theo ông, vì sao còn tình trạng này?

PCN Trương Minh Hoàng: Qua tiếp xúc cử tri, tiếp xúc với doanh nghiệp về đầu tư công nghệ cao trên lĩnh vực này, để làm ra sản phẩm sạch thì các doanh nghiệp cũng có những điều làm họ nản lòng. Như vừa rồi có doanh nghiệp khi làm ra sản phẩm sạch nhưng khi có sản phẩm cạnh tranh thì không có sự minh bạch. Khi đăng ký bản quyền thì còn vướng về hồ sơ thủ tục, hay khi muốn mở rộng đầu tư sản xuất thì khó khăn về khâu vay vốn. Hoặc có những địa phương chưa thực sự đồng hành với các cơ sở sản xuất sạch của doanh nghiệp.

Để khắc phục tình trạng này theo tôi, trách nhiệm của các ngành, các cấp cần vào cuộc quyết liệt, bằng biện pháp pháp lý để kiểm soát, xử lý vấn đề không minh bạch.

Hai là muốn thu hút đầu tư doanh nghiệp lớn thì phải duy trì để doanh nghiệp sống được như về ưu đãi cần cụ thể, rõ ràng, tránh việc đùn đẩy trách nhiệm. Đây là bài toán cần phải tính.

Tôi mong rằng trong chính sách của nhà nước, các cơ quan chức năng, cũng như đại biểu dân cử các cấp thường xuyên giám sát, kiểm tra vấn đề này để làm sao giúp nông nghiệp công nghệ cao phát triển bền vững. Như vậy thì không những các doanh nghiệp duy trì phát triển mà cũng tạo điều kiện cho 70% người dân nông thôn phát triển và làm giàu trên chính mảnh đất của mình. Nếu thực hiện tốt thực phẩm sạch thì sẽ giảm được rất nhiều chi phí như BHXH, BHYT... và nhiều hệ luy khác…

Nguyễn Thu Trà (29 tuổi), Thanh Hóa: Theo Ông, làm thế nào để phát triển được nền nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam trên quy mô sản xuất hàng hóa lớn, làm thay đổi tập quán kinh tế của người dân và từng bước xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, tiên tiến?

Nguyễn Thu Trà (29 tuổi), Thanh Hóa: Thưa ông Cường, làm thế nào để phát triển được nền nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam trên quy mô sản xuất hàng hóa lớn, làm thay đổi tập quán kinh tế của người dân và từng bước xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, tiên tiến?

PVT Phạm Mạnh Cường: Chúng tôi cho rằng cần tập trung chỉ đạo quyết liệt để giải quyết các khó khăn, vướng mắc kìm hãm sản xuất nông nghiệp phát triển. Trước mắt chúng ta cần nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các chính sách về đất đai, tại điều kiện thuận lợi cho tích tụ và tập trung ruộng đất, mở rộng hạn điền; Ban hành các hướng dẫn cụ thể về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất nông nghiệp, tạo điều kiện cho DN thực hiện thủ tục giao dịch tài sản tại ngân hàng khi vay vốn. Chính quyền có thể đứng ra làm trung gian thuê lại đất của nông dân và cho DN thuê lại.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách đổi mới và phát triển các hình thức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, phát triển các chuỗi giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Thứ ba, đẩy mạnh liên kết "bốn nhà", tăng cường áp dụng KHCN, công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp gắn liền giữa nghiên cứu với chuyển giao và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.

Thứ tư, ban hành các chính sách tạo điều kiện tốt nhất, thông thoáng nhất để doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là các DN ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, trong đó có hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng, về vốn, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Thứ năm, hoàn chỉnh các chính sách về tín dụng, tạo điều kiện cho các DN nông nghiệp công nghệ cao tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi có lãi suất thấp hơn so với lãi suất thương mại; mở rộng hình thức áp dụng cho vay tín chấp và tài sản hình thành trong quá trình triển khai dự án nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ sáu, đổi mới chính sách đào tạo và hỗ trợ đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ bảy, tạo điều kiện đàm phán xây dựng và phát triển thị trường cả trong và ngoài nước.

Lê Thu Phương (28 tuổi), Hà Nam: Việc thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu vẫn tự tung tự tác trên thị trường đã gây ảnh hưởng như thế nào đến uy tín và sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trong nước, thưa Ông ?

Lê Thu Phương (28 tuổi), Hà Nam: Việc thuốc BVTV nhập lậu vẫn tự tung, tự tác trên thị trường đã gây ảnh hưởng như thế nào đến uy tín và sản xuất kinh doanh thuốc BVTV trong nước, thưa ông Doanh?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Thuốc BVTV nhập lậu nếu không có trong danh mục thì về cơ bản nó ảnh hưởng lớn đến sản xuất, bởi nó không phòng trừ hiệu quả dịch hại, không ngăn chặn được dịch hại, dẫn đến mất năng suất, ảnh hưởng đến thu hoạch. Tuy nhiên, ảnh hưởng đến kinh doanh không nhiều. Bởi lẽ, lượng thuốc BVTV lậu rất ít. Thuốc BVTV mà là thuốc giả, ngoài ảnh hưởng đến bảo vệ sản xuất, sẽ ảnh hưởng đến uy tín sản phẩm của doanh nghiệp bị làm giả. Từ đó, làm rối loạn thị trường thuốc BVTV, thường các thuốc nhập lậu giả thì họ giả các loại thuốc có hiệu lực cao, của các thương hiệu uy tín trên thị trường.

Lê thị Thu (36 tuổi), Nam Đàn, Nghệ An: Với tính năng và tác dụng rất tốt cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, vậy chế phẩm PROBIOTIC BIOLIN đã có cách nào để đến được tận tay bà con, thưa Ông ?

Lê thị Thu (36 tuổi), Nam Đàn, Nghệ An: Với tính năng và tác dụng rất tốt cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, vậy chế phẩm PROBIOTIC BIOLIN đã có cách nào để đến được tận tay bà con, thưa ông?

Ông Đoàn Quốc Việt: Công ty TNHH Thương mại và Xuất nhập khẩu Biển Bạc đã trực tiếp cung cấp các sản phẩm cho gia súc, gia cầm và thủy sản tại các khu vực Vinh và Quỳnh Lưu, Nghệ An. Đại diện trực tiếp của công ty sẽ chuyển hàng đến tận tay người tiêu dùng để bảo đảm chống hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Nếu chị Thu quan tâm đến công ty có thể liên hệ trực tiếp tại Lô A5, Cụm Công nghiệp Xương Giang 2, thành phố Bắc Giang.

Văn Trường (35 tuổi), TP Hà Nội: Ông có thể chia sẻ bí quyết mà TH có được những dòng sản phẩm sạch nguyên chất và giữ được hương vị thơm ngon tự nhiên, lưu giữ trọn những tinh túy và dưỡng chất tự nhiên sản phẩm do TH làm ra ?

Văn Trường (35 tuổi), TP Hà Nội: Ông có thể chia sẻ bí quyết mà TH có được những dòng sản phẩm sạch nguyên chất mà vẫn giữ được hương vị thơm ngon tự nhiên, lưu giữ trọn những tinh túy và dưỡng chất tự nhiên sản phẩm do TH làm ra?

Ông Ngô Minh Hải: Tôi có thể nêu ví dụ điển hình tại Dự án sữa tươi sạch TH true MILK. Để có một ly sữa tươi sạch TH true MILK đạt tiêu chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam, chúng tôi đã áp dụng công nghệ cao trong công tác chăn nuôi bò sữa tập trung với quy trình sản xuất khép kín “Từ đồng cỏ xanh đến ly sữa sạch”. Khi triển khai Dự án, tập đoàn TH đã có kế hoạch kỹ lưỡng từ khâu chọn giống, tổ chức sản xuất, sản xuất thức ăn, vắt sữa và chế biến sữa. Đàn bò giống được lựa chọn phù hợp với chiến lược sản phẩm và sản xuất kinh doanh của công ty.

Trang trại cũng được trang bị hệ thống lập khẩu thức ăn. Theo đó, hoạt động phối trộn chế biến và cung cấp thức ăn cho bò sữa hoàn toàn tự động bằng vi tính hóa 100% dưới sự tư vấn và điều hành bởi các chuyên gia dinh dưỡng Israel.

Hệ thống vắt sữa tại TH ứng dụng Công nghệ tự động hóa. Tại mỗi trang trại được thiết kế để vắt sữa cho khoảng 3.000 bò/ngày, mỗi ngày vắt sữa 3 ca. Bò được vắt sữa hoàn toàn tự động bằng 4 núm vú chân không. Sau khi được vắt, sữa sẽ được chuyển đến bình thu gom sữa trung gian bằng hệ thống đường ống Inox. Sau đó sữa được đột ngột làm lạnh xuống dưới 4oC và được chuyển ngay đến bồn bảo quản sữa. Với nhiệt độ dưới 4oC, sữa được bảo quản an toàn khỏi các loại vi khuẩn thâm nhập, và giữ nguyên vẹn được hàm lượng chất dinh dưỡng nguyên chất sau khi được vắt từ bầu vú của bò. Sau đó, sữa được chuyển đến nhà máy chế biến bằng bồn lạnh bảo ôn đặc biệt nhập khẩu từ Israel. Bồn lạnh bảo ôn có khả năng giữ sữa ở nhiệt độ dưới 4oC trong vòng 36 tiếng đồng hồ. Như vậy, từ khi sữa được vắt từ bầu vú bò cho đến khi sữa đến tay người tiêu dùng không hề có một chút không khí nào lọt vào. Không khí không thể lọt vào, có nghĩa các vi khuẩn có hại không thể thâm nhập vào sữa. Vì thế sữa TH true MILK vẫn giữ được sự tươi, sạch, thơm ngon, tinh khiết, bổ dưỡng vì hàm lượng chất dinh dưỡng vẫn còn nguyên vẹn mà không có một nhãn hiệu sữa nào ở Việt Nam có được.

Công nghệ quản lý đàn bò sử dụng chip Afitag bảo đảm kiểm soát được các chỉ số quan trọng nhất của từng cá thể bò (sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, chất lượng sữa…). Các công đoạn khác của TH cũng áp dụng các loại máy móc công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng, bảo đảm nguồn sữa tươi nguyên liệu và các sản phẩm chế biến đạt chất lượng cao nhất.

Cao Văn Trung (51 tuổi), Hải Phòng: Để chủ động nguồn cung cho thị trường trong nước và có tính đến vươn ra thị trường thế giới thì những chính sách dành cho phát triển thuốc bảo vệ thực vật, thưa Ông ?

Cao Văn Trung (51 tuổi), Hải Phòng: Để chủ động nguồn cung cho thị trường trong nước và có tính đến vươn ra thị trường thế giới thì Bộ có những chính sách dành cho phát triển thuốc BVTV gì, thưa ông?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Chính sách về thuốc BVTV phải phù hợp với sự phát triển KTXH bền vững, phát triển nông nghiệp an toàn theo chuỗi giá trị. Do vậy, chủ trương của chúng ta là loại bỏ dần các loại thuốc BVTV độc hại, tạo điều kiện đăng ký các loại thuốc BVTV sinh học. Chúng ta khuyến khích đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại trong sản xuất các loại thuốc BVTV sinh học ít độc hại. Chúng ta đang đẩy mạnh xã hội hóa tất cả các khâu trong quá trình quản lý thuốc như: khảo nghiệm thuốc, kiểm định thuốc, dịch vụ hóa việc sử dụng thuốc BVTV.

Mạnh Hải, Quảng Nam: Thưa ông Sơn, để quản lý, sử dụng hiệu quả thuốc BVTV nhằm bảo đảm an toàn cho sức khỏe người, sinh vật có ích và môi trường, Hội của ông có đề xuất các giải pháp gì?

Ông Nguyễn Văn Sơn: Đây là câu hỏi rất lớn và quan trọng cho các cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV, các nhà khoa học, doanh nghiệp và cho cả người sử dụng thuốc BVTV. Ở góc độ doanh nghiệp, Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV Việt Nam có một số đề xuất sau:

Thứ nhất, đề nghị Bộ NN và PTNT, Cục BVTV xây dựng và công bố định hướng phát triển cho ngành thuốc BVTV phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong thời hạn 10 – 20 năm để làm cơ sở xây dựng kế hoạch và chính sách cho sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV tại Việt Nam; không bị chi phối bởi các ngành khác hoặc do sự sử dụng sai lệch của người dân. Theo đó các DN cũng sẽ xây dựng được cho mình hướng đi phù hợp, đúng với chính sách và quy định.

Thứ hai, xây dựng và công bố tiêu chuẩn chất lượng cho tất cả các thuốc BVTV có trong danh mục. Tất cả các thuốc BVTV nhập khẩu vào Việt Nam đều phải được kiểm tra nhà nước 100% về chất lượng. Việc kiểm soát chất lượng thuốc BVTV được thực hiện chặt chẽ và thường xuyên, bảo đảm đúng quy định chỉ có lô hàng thuốc BVTV đạt chất lượng nhập khẩu mới được phép đưa vào sử dụng. Chúng ta không phân biệt đối xử thuốc BVTV nhập khẩu từ quốc gia nào đến mà chỉ quan tâm thuốc BVTV nhập khẩu đó phải đạt chất lượng nhập khẩu theo tiêu chuẩn mới được phép nhập khẩu vào Việt Nam.

Thứ ba, có chính sách cụ thể khuyến khích đăng ký và sử dụng thuốc BVTV sinh học, thuốc BVTV hóa học thế hệ mới.

Thứ tư, cần cải cách các thủ tục hành chính trong việc làm thủ tục xuất nhập khẩu và đăng ký thuốc BVTV để giảm bớt những phiền hà không cần thiết cho doanh nghiệp.

Thứ năm, cần xây dựng chế tài xử phạt đủ mạnh, đủ sức răn đe đối với các vi phạm trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV. Bên cạnh đó, cần có các biện pháp mạnh chống thuốc BVTV giả, nhái, nhập lậu thuốc BVTV qua biên giới. Nên có bản cam kết của các đại lý thuốc BVTV với cơ quan chuyên ngành không bán, hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV giả, nhái, nhập lậu. Các cơ quan chức năng cần tích cực thực thi các biện pháp kiểm tra, thanh tra, nếu vụ việc nào có thể xử lý hình sự được thì cương quyết xử lý. Ngoài ra, cũng cần xem xét sửa quy định Điều 244 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó cần huy động các đoàn thể, tổ chức ở địa phương tham gia vào công tác giám sát, phát hiện, tố giác những trường hợp buôn bán thuốc BVTV giả, kém chất lượng, ngoài danh mục.

Thứ sáu, đề nghị tiếp tục cấm không cho đăng ký và sử dụng các loại thuốc BVTV gây ung thư, quái thai. Cần loại bỏ dần khỏi danh mục thuốc BVTV đã đăng ký nhưng có độ độc cao, chậm phân hủy, chú ý các thuốc BVTV thuộc nhóm độc Ia, Ib, thời gian cách ly dài. Việc loại bỏ thuốc BVTV phải được đánh giá một cách kỹ lưỡng và thận trọng bởi hội đồng chuyên gia có chuyên môn giỏi.

Thứ bảy, chú trọng công tác tuyên truyền, xây dựng ý thức cộng đồng cho nông dân và người tiêu dùng về sử dụng các loại thuốc BVTV một cách đúng đắn, có hiệu quả, bảo đảm an toàn thực phẩm, an toàn môi trường, vì sức khoẻ của cả cộng đồng. Thông qua các các phương tiện thông tin, tuyền truyền đại chúng như báo chí, tờ rơi, áp phích, quảng cáo cũng như phát thanh, truyền hình từ Trung ương đến địa phương để kịp thời cập nhật thông tin tới người dân về công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm tuyên truyền và hướng dẫn sử dụng các loại thuốc BVTV một cách đúng đắn, có hiệu quả, bảo đảm an toàn thực phẩm, an toàn môi trường.

Thứ tám, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn gắn với việc sử dụng thuốc BVTV sinh học và thuốc BVTV hóa học ít độc hại.

Thứ 9, Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc BVTV đã ban hành và có hiệu lực gần 2 năm. Trong quá trình áp dụng đã bộc lộ một số điều chưa phù hợp sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV, đề nghị Bộ NN và PTNT, Cục BVTV tổ chức hội nghị giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp thuốc BVTV, nghe ý kiến của các doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan để sửa đổi, bổ sung.

Thứ 10, Bộ NN và PTNT cùng các địa phương cần xem xét cho chủ trương quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp sản xuất thuốc BVTV thế hệ mới cũng như thuốc BVTV sinh học trong nước nhằm giảm thuốc nhập khẩu. Để thực hiện được chủ trương này cần xây dựng các đề án cụ thể trình Nhà nước, Chính phủ và Bộ phê duyệt từ quỹ đất đai không trồng trọt được, xa dân cư, bảo đảm xử lý tốt môi trường, không gây hậu quả lâu dài…

Thanh Đào (36 tuổi), TP Hà Nội: Rõ ràng là tất cả chúng ta ở đây đều có chung quan điểm là việc phát triển kinh tế nông nghiêp, nông thôn có tiềm năng vô cùng to lớn. Bên cạnh đó, vai trò của doanh nghiệp trong lĩnh vực này lại vô cùng quan trọng, là khâu đột phá, mũi nhọn có tính chất quyết định. Vậy tại sao số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này lại còn ít như vậy, thưa Ông?

Thanh Đào (36 tuổi), TP Hà Nội: Rõ ràng là tất cả chúng ta ở đây đều có chung quan điểm là việc phát triển kinh tế nông nghiêp, nông thôn có tiềm năng vô cùng to lớn. Bên cạnh đó, vai trò của doanh nghiệp trong lĩnh vực này lại vô cùng quan trọng, là khâu đột phá, mũi nhọn có tính chất quyết định. Vậy tại sao số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này lại còn ít như vậy, thưa ông?

CT Nguyễn Hồng Sơn: Doanh nghiệp luôn là nhân tố quyết định và là đầu tàu thúc đẩy sản xuất. Vì chính doanh nghiệp là người mở đường để tìm kiếm thị trường, có thể tổ chức hàng hóa trên quy mô lớn, kiểm soát được chất lượng nông sản và tổ chức lại hệ thống sản xuất cũng như có vốn đầu tư để đổi mới công nghệ. Tuy nhiên hiện nay còn ít doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ vì một số lý do:

Thứ nhất, lãi trong sản xuất nông nghiệp không cao so với một số ngành sản xuất, dịch vụ khác. Đặc biệt kinh doanh về vật tư, đất đai, hạ tầng, nhà ở...

Thứ hai, đầu tư vào nông nghiệp không chỉ cần điều kiện về vốn mà cần năng lực quản trị và tổ chức sản xuất tốt, thậm chí phải rất am hiểu về sản xuất hay thói quen, tập quán của người sản xuất thì quản lý mới hiệu quả được. Nhiều doanh nghiệp đã thất bại trong việc quản lý nông dân trong các trang trại.

Thứ ba, hành lang pháp lý để các doanh nghiệp liên kết và ký kết hợp đồng như thuê đất, mua nông sản, lao động .... với nông dân chưa thực sự chặt chẽ. Do đó, nhiều doanh nghiệp bị phá vỡ hợp đồng dẫn đến mối liên kết khó thành công.

Thứ tư, hoạt động một số doanh nghiệp chưa minh bạch và lành mạnh hóa trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dẫn đến hiện tượng "con sâu làm rầu nồi canh" dẫn đến ảnh hưởng tới niềm tin của người nông dân, cũng như sự liên kết giữa các doanh nghiệp khi ra thị trường thế giới.

Thứ năm, một số chính sách đã nêu trong tọa đàm còn có bất cập, đặc biệt là các thủ tục hành chính, còn có nhiều cản trở để khuyến khích và thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào sản xuất và tiêu thụ.

Vân Linh (28 tuổi), TP Hà Nội: Để tiếp tục thực hiện được mục tiêu đưa sản phẩm sạch, chất lượng tốt nhất đến với người tiêu dùng, thời gian tới TH sẽ có những chiến lược nào trong sản xuất kinh doanh thưa Ông ?

Vân Linh (28 tuổi), TP Hà Nội: Để tiếp tục thực hiện được mục tiêu đưa sản phẩm sạch, chất lượng tốt nhất đến với người tiêu dùng, thời gian tới TH sẽ có những chiến lược nào trong sản xuất kinh doanh thưa ông?

Ông Ngô Minh Hải: Chúng tôi kiên trì áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó tiêu chuẩn sản xuất cao nhất là organic (hữu cơ) châu Âu và Mỹ để không những có sản phẩm tốt nhất đến đến người tiêu dùng mà còn an toàn, thân thiện với môi trường.

Chúng tôi cũng theo đuổi việc chuyển đổi đất đai, vật nuôi sang chăn nuôi hữu cơ để có thể sản xuất các sản phẩm sạch, an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam. Cùng với đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới việc minh bạch thông tin, giúp người tiêu dùng truy xuất được xuất xứ hàng hóa. Các sản phẩm nông sản của TH đều ghi rõ nơi sản xuất nguyên liệu (từ trang trại nào) và mã vạch truy xuất. Chúng tôi cũng đấu tranh để minh bạch các thông tin này trên bình diện chung.

Có thể kể tới cuộc đấu tranh lâu dài của TH trong việc minh bạch tên gọi sữa. Thị trường sữa Việt Nam hiện nay đang nhập nhèm tên gọi bởi khái niệm sữa dạng lỏng chưa được quy định rõ ràng tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sữa dạng lỏng QCVN 5:1-2010/BYT của Bộ Y tế. Sữa nước dạng lỏng chế biến từ sữa bột được gọi là: “Sữa tiệt trùng” trong khi đó tiệt trùng chỉ là giải pháp công nghệ, không nêu rõ được nguồn gốc nguyên liệu. Ít người tiêu dùng biết điều này và thường nhầm lẫn sữa tiệt trùng là sữa tươi. Trước thực tế này, tôi đã đưa ra kiến nghị nhằm minh bạch hóa thị trường sữa, trong đó có 2 yêu cầu cơ bản nhất cần đạt được là: Doanh nghiệp phải ghi rõ xuất xứ nguyên liệu đầu vào trên bao bì sản phẩm; Cơ quan chức năng cần tiến hành rà soát, kiểm tra và phân loại các sản phẩm sữa đang lưu hành trên thị trường, xử lí nghiêm các vi phạm và kiến nghị cần sửa đổi QCVN 5:1-2010/BYT, trong đó sửa đổi tên gọi: “sữa tiệt trùng” thành “sữa hoàn nguyên”, “sữa pha lại” và “sữa hỗn hợp” để bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng, làm tròn vai trò của quản lý nhà nước.

Đặng Yến (35 tuổi), TP Hà Nội: Thưa Ông, bảo vệ thực vật phụ thuộc vào giống, môi trường, quy trình sản xuất hay là thuốc. Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giải quyết vấn đề gì?

Đặng Yến (35 tuổi), TP Hà Nội: Thưa ông, BVTV phụ thuộc vào giống, môi trường, quy trình sản xuất hay là thuốc. Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giải quyết vấn đề gì?

PCT Bùi Sĩ Doanh: Thuốc BVTV chỉ là một trong các biện pháp phòng trừ dịch hại. Đối với việc tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển nông nghiệp sạch thì BVTV phải được tiếp cận theo hướng quản lý dịch hại chứ không phải phòng trừ dịch hại. Do đó, BVTV phải được triển khai ngay từ công đoạn đầu của quá trình sản xuất: Phải có kỹ thuật canh tác bảo đảm hạn chế dịch hại, giống tốt, chất lượng chống chịu dịch hại, có quy trình sản xuất phù hợp. Do vậy, chúng ta thấy rằng, tất cả các khâu giống, môi trường, quy trình sản xuất đều là các biện pháp để quản lý dịch hại, bảo vệ sản xuất. Thuốc BVTV chỉ sử dụng khi thực sự cần thiết, khi các giải pháp khác không có khả năng ngăn chặn dịch hại, bảo vệ sản xuất. Khi đó, phải ưu tiên sử dụng thuốc BVTV sinh học.

Việc sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc: đúng thuốc, đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, nồng độ.

Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giúp đưa các giải pháp sinh học vào BVTV bằng các nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại để tạo ra các thuốc BVTV ít độc hại, an toàn đối với nông sản, môi trường. Nông nghiệp công nghệ cao cũng giúp đưa tiến bộ, kỹ thuật nói chung vào sản xuất, bảo vệ sản xuất, phù hợp với quy mô sản xuất lớn, thâm canh và nền sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, từ đó, đưa lại hiệu quả cao trong sản xuất.

Hoàng Hải (26 tuổi), Cà mau: Thưa bác Trương Minh Hoàng, tôi là một cử tri Cà Mau, ở Cà Mau nuôi nhiều tôm xuất khẩu, nhưng cũng có người sản xuất nuôi tôm không đúng quy trình, làm ảnh hưởng tới chất lượng tôm xuất khẩu Cà Mau, Bác có biện pháp gì giúp đỡ người dân trước thực trạng này ?

Hoàng Hải (26 tuổi), Cà Mau: Thưa bác Trương Minh Hoàng, tôi là một cử tri Cà Mau. Ở Cà Mau nuôi nhiều tôm xuất khẩu, nhưng cũng có người sản xuất nuôi tôm không đúng quy trình, làm ảnh hưởng tới chất lượng tôm xuất khẩu Cà Mau. Bác có biện pháp gì giúp đỡ người dân trước thực trạng này?

PCN Trương Minh Hoàng: Tôi rất chia sẻ với bà con nuôi tôm. Hiện nay trong quá trình nuôi tôm thì tôi nghĩ hơn ai hết bà con hiểu rất rõ làm thế nào để tôm phát triển và tôm sạch. Tôi chia sẻ như sau:

Trước hết, bà con có thể mang những thông tin này trao đổi với những bác có kinh nghiệm trong địa phương đang canh tác. Khi muốn sản xuất nuôi tôm sạch thì phải xử lý ao đầm nuôi sạch, bảo đảm xử lý nguồn nước sạch, phải đo nồng độ theo quy chuẩn kỹ thuật, tính đến thức ăn để lựa chọn phù hợp. Khâu không thể thiếu là con giống. Đây là yếu tố quyết định rất cao trong quá trình nuôi. Tiếp theo là quá trình theo dõi nuôi. Không thể ủy thác cho điều kiện tự nhiên mà phải quan tâm đến sự phát triển của tôm theo thời tiết, nguồn nước tránh việc tôm mắc bệnh.

Mặc khác, “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, quá trình chuẩn bị chăm sóc là rất quan trọng để con tôm giảm tối đa việc sử dụng nguồn hóa chất.

Đúng là Cà Mau mỗi năm xuất khẩu bằng 1/6 có lúc hơn 1/4 của xuất khẩu trung bình toàn quốc về thủy sản. Nơi đây là vựa tôm lớn nhất của cả nước. Việc làm ảnh hưởng đến tôm xuất khẩu còn có khâu thu hoạch, mua bán, vận chuyển. Khi chính quyền vào cuộc mạnh thì đã có sự giảm, nhưng nếu lơ là thì lại bùng phát. Tôi cho rằng, khâu có vấn đề là từ vận chuyển, mua bán.

Để xử lý dứt điểm vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có sự chỉ đạo quyết liệt làm sao để đưa sản phẩm tôm xuất khẩu lên 10 tỷ USD và con hơn nữa, trong đó phải xử lý vấn đề tôm nhiễm tạp chất tránh ảnh hưởng đến việc nuôi trồng của bà con. Đồng thời, bà con khi phát hiện ra các cơ sở thu mua có vấn đề cần đồng hành với chính quyền, có như vậy người cố tình đưa tạp chất vào tôm mới không có chỗ đứng và bảo vệ được con tôm, kể cả tôm nuôi truyền thống và tôm nuôi công nghiệp cao.

PTBT Nguyễn Quốc Thắng: Vâng thưa quý vị và các bạn, có thể khẳng định, tái cơ cấu nông nghiệp gắn liền với việc phát triển nền nông nghiệp sạch nhằm tăng hiệu quả kinh tế nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời, đóng góp vào việc cung cấp các sản phẩm an toàn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Nông nghiệp sạch giúp nông dân tăng thu nhập, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn đưa người nông dân tới gần hơn với nền sản xuất hiện đại, tạo nền tảng cho nông nghiệp phát triển, hướng tới xây dựng nông thôn mới bền vững.

Thông qua những trao đổi của các khách mời tham dự chương trình đã đánh giá hiệu quả mô hình nông nghiệp sạch theo hướng bền vững, hướng tới phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường; đồng thời đóng góp các ý kiến nhằm hoàn thiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp sạch; khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển; chính sách phát triển các hợp tác xã…

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn các vị đại biểu, các vị khách quý.

PCN Trương Minh Hoàng: Thay mặt khách mời, xin trân trọng cảm ơn bạn đọc báo Đại biểu Nhân dân!

Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang