CHÍNH TRỊ
Cập nhật 21:14 | 20/08/2019 (GMT+7)
.
Hội thảo khoa học quốc gia Nguyễn Văn Tố với cách mạng Việt Nam:

Vị Bộ trưởng giản dị, xông xáo, nhân hậu

11:45 | 01/06/2019
Trong khuôn khổ Hội thảo khoa học cấp quốc gia Nguyễn Văn Tố với Cách mạng Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội Đào Ngọc Dung đã tham luận về cụ Nguyễn Văn Tố trên cương vị Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội - giản dị, xông xáo, nhân hậu, lăn lộn cùng dân vận động thành lập Hội Cứu đói, cùng Chính phủ và toàn dân bảo vệ thành quả cách mạng trong những năm 1945-1946.

Tận dụng đất đai trồng màu cứu đói

Với lòng yêu nước, thương dân của một nhà trí thức lớn, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cụ Nguyễn Văn Tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh “chọn mặt gửi vàng” mời về làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ dân chủ cách mạng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính quyền cách mạng non trẻ mới thành lập, đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn và một trong những khó khăn lớn nhất là “giặc đói”. Trước đó, từ nửa cuối năm 1944, chính sách bóc lột của phát xít Nhật, thiên tai hạn hán, lũ lụt liên tiếp làm cho nạn đói ở miền Bắc càng thêm thảm khốc, dẫn đến hậu quả gần 2 triệu đồng bào Bắc Bộ bị chết đói. Để có thể huy động được sức mạnh của toàn dân trong giai đoạn hiểm nghèo này, Chính phủ cách mạng xác định công việc đầu tiên và cấp bách là giải quyết những nhu cầu bức thiết của nhân dân.

Ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ 6 việc cấp bách cần làm ngay, trong đó vấn đề số 1 được xác định là cứu đói: “Nhân dân đang đói… Những người thoát chết đói, nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm như thế nào cho họ sống!”. Để cứu hàng triệu người thoát đói, bên cạnh việc phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân nghèo, động viên đồng bào tương thân, tương trợ, nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ nhau vượt qua nạn đói.


Bộ trưởng Bộ Lao động  - Thương Binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trình bày tham  luận về cụ Nguyễn Văn Tố
Ảnh: Duy Thông

Ngày 28.9.1945, trong bức thư gửi toàn thể đồng bào đăng trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy, tôi đề nghị đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo”.

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, ngày 2.11.1945, với cương vị là Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, cụ Nguyễn Văn Tố đã quyết định thành lập Hội Cứu đói. Hội được thành lập đồng thời ở Hà Nội, Thuận Hóa, Sài Gòn và có chi nhánh tại các tỉnh, các làng với mục đích cứu dân khỏi đói, khỏi rét. Phương pháp hoạt động chủ yếu là tìm nguồn thực phẩm, tiền và vải do các nhà hảo tâm giúp đỡ; phát triển sản xuất, khuyến khích công việc đồng áng và trông nom đê điều; giúp đỡ nhân dân khai khẩn đất hoang hóa để tăng gia sản xuất.

Hội Cứu đói được thành lập đúng vào thời điểm cách mạng Việt Nam ở hoàn cảnh vô cùng khó khăn, hàng triệu đồng bào đang bị nạn đói đe dọa. Do đó, Hội nêu rõ, để thực hiện được nhiệm vụ, ở ba miền Bắc - Trung - Nam mỗi nơi đều thành lập một cơ quan y tế ở địa phương thực hiện các công việc cứu tế và liên lạc với Hội Cứu tế của Chính phủ. Cùng với đó, cần có sự hoạt động tích cực của đội ngũ cán bộ phụ trách trong công tác tuyên truyền, giải thích để quần chúng hiểu. Khi quần chúng nhân dân hiểu được tình hình và nhiệm vụ cao cả trong thời khắc lịch sử dân tộc gặp muôn vàn khó khăn, vấn đề nạn đói sẽ nhanh chóng được giải quyết.

Cùng thời điểm này, xét thấy yêu cầu và nhiệm vụ của Chính phủ đặt ra là phải thực hiện ngay các biện pháp cứu tế xã hội, ngày 31.12.1945, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố ra Sắc lệnh 63 về thành lập Hội Cứu tế xã hội, quy định rõ nhiệm vụ của Hội Cứu tế xã hội. Trên cơ sở nhiệm vụ đó, Sắc lệnh yêu cầu ở mỗi miền Bắc - Trung - Nam phải thành lập một cơ sở y tế ở địa phương để có thể thực hiện tốt công tác cứu tế khi đời sống của nhân dân tại địa phương gặp khó khăn. Khi có vướng mắc có thể liên lạc với Hội Cứu tế xã hội của Chính phủ. Theo đó, Ban Cứu đói có nhiệm vụ xem xét tình hình đời sống nhân dân trong nạn đói để ấn định phương pháp chẩn tế. Ban Thóc gạo có nhiệm vụ thu mua thóc gạo, trông nom công tác vận tải để thiết lập các kho chứa gạo. Ban Di dân tiến hành điều tra và tìm việc cho nạn nhân, với sự phối hợp của Bộ Canh nông và Bộ Lao động.

Đối với Ban Hội thiện cần tiến hành giám sát các hội có tính cách cứu tế xã hội tổ chức, xem xét sự thu chi của các hội đó; Ban Dân sinh có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến các điều lệ trong quá trình cứu tế.

Để có sự thống nhất trong cách thức hoạt động của các tổ chức xã hội, đồng thời đảm bảo hoạt động của Hội Cứu tế xã hội, ngày 18.1.1946, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố ra 2 sắc lệnh số 8, số 9 ngày 18.1.1946 về giải tán các hội “Fondation Jules Bresvie” và hội “Bảo trợ phụ nữ và nhi đồng” do thực dân Pháp thành lập trước đó. Sau khi giải tán, toàn bộ tài sản hai hội này được tập trung giao cho Bộ Cứu tế  xã hội quản lý và lấy làm kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ cứu tế xã hội.

Ngày 28.11.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 67 thành lập Ủy ban tối cao Cứu tế và tiếp tế của Chính phủ với nhiệm vụ: “Xét tình hình kinh tế hiện thời và cần phải đề phòng nạn đói có thể tái diễn ở Bắc Bộ và một vài tỉnh ở Trung Bộ, nay cử một ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế, gồm Bộ trưởng các Bộ Kinh tế, Canh nông, Cứu tế. Ủy ban có toàn quyền hành động để nghiên cứu và thi hành những biện pháp cần thiết để tăng gia sản xuất để tiếp tế và cứu tế cho nhân dân trên toàn cõi Việt Nam”.

Thực hiện Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15.11.1945, Bộ Cứu tế  xã hội phối hợp với Bộ Quốc dân kinh tế ký Nghị định số 41 BKT nêu rõ một loạt biện pháp nhằm khuyến khích tận dụng nguồn đất đai trồng màu cứu đói.

Ngoài những biện pháp trên, Bộ Cứu tế xã hội phối hợp với Bộ Canh nông tổ chức thêm những cơ sở tăng gia tập thể, dùng nguồn đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê, vận động các cá nhân sử dụng tạm những mảnh vườn trống để tăng gia sản xuất. Đây là cuộc chiến lâu dài, đòi hỏi sự tham gia tích cực của mọi thành phần trong xã hội. Vì thế, Bộ Cứu tế xã hội chỉ thị cho Hội Cứu tế cần làm tốt công tác tuyên tuyền, vận động mọi thành phần xã hội đều tham gia trồng trọt. “Mọi lực lượng tham gia có thể là thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, vệ quốc đoàn, công nhân, viên chức, phụ lão… Mỗi địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất. Lương thực làm được dùng cho mục đích tiếp tế và cứu tế”.

“Hũ gạo tiết kiệm” và những ngày đồng tâm nhịn ăn

Từ cuộc vận động này, ở Hà Nội, học sinh đã cuốc xới cả sân trường, vỉa hè và bất cứ nơi nào còn đất trống. Công chức tiến hành cuốc vườn ngay tại công sở để trồng ngô, khoai. Thanh niên thành phố chia thành những đội tăng gia đi trồng sắn ở bờ đê, bãi sông, lề đường. Hưởng ứng những chủ trương của Chính phủ và của Bộ Cứu tế xã hội, một phong trào thi đua cứu đói nổi lên rầm rộ khắp cả nước dưới muôn vàn hình thức khác nhau.

Tại Thủ đô Hà Nội, ngày 11.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thân hành đến Nhà hát Lớn để đóng góp bát gạo đầu tiên và cử lễ xuất phát cho “đoàn quân tiễu trừ giặc đói”. Nhân dân khắp nơi tự nguyện thực hiện, cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, tháng nhịn ăn ba bữa, đem số gạo đó ủng hộ người nghèo. Ở Hà Nội, Nam Định xuất hiện các xe bò bác ái đi lạc quyên khắp các con phố. Nhân dân Hưng Yên nhận đỡ đầu nhân dân Thái Bình. Đồng bào Nam Định gửi 2 chuyến tàu gạo ra giúp các tỉnh ngoài Bắc. Nhiều làng ở Bắc Ninh tự nguyện bỏ hủ tục ăn uống lãng phí để tiết kiệm lương thực giúp đỡ người nghèo….

Trên cương vị là người đứng đầu Bộ Cứu tế xã hội, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố thực hiện nhiều chuyến “vi hành” đến các địa phương Thái Bình, Thái Nguyên, Hưng Yên, Nam Định chỉ đạo thành lập Hội Cứu đói. Ban đầu, Hội được thành lập ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, sau đó nhanh chóng lan rộng khắp cả nước. Từ các làng, xã, thôn, bản đến các xí nghiệp sản xuất, các cơ quan đều thành lập các hội lớn, nhỏ để vận động đồng bào đóng góp lương thực ủng hộ người nghèo. Các biện pháp Ông đưa ra đã khơi dậy truyền thống yêu nước, nhân ái, đồng cam cộng khổ, đoàn kết đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau của toàn dân tộc trong hoàn cảnh hiểm nghèo.

Ngoài việc thành lập Hội Cứu đói, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố còn trực tiếp kêu gọi các địa phương hưởng ứng lời kêu gọi tương thân, tương ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện các biện pháp như “Hũ gạo tiết kiệm” và “những ngày đồng tâm nhịn ăn” kêu gọi đồng bào chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền vận động các nhà tư sản, địa chủ bỏ tiền của, thóc gạo cứu đói cũng được chú trọng.

Kết quả, có nhiều địa chủ nhiệt tình, hăng hái tham gia đóng góp. Có người tự nguyện góp tới 50 tấn thóc. Lại có người góp cả số hoa lợi trên 600 mẫu ruộng của họ. Cả nước sôi nổi hưởng ứng, người người tham gia, không phân biệt giai cấp, đảng phái tôn giáo. Với sự đồng sức đồng lòng của nhân dân khắp cả nước cùng đánh đuổi giặc đói, đến cuối năm 1946 nạn đói đã gần được giải quyết. Đánh giá thành tích này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ nêu rõ:“ Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói. Thực là một kỳ công của chế độ dân chủ”.

Không chỉ thực hiện các biện pháp mang tính chất hành chính nhằm đẩy lùi nạn đói, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố thời điểm này còn tiến hành tổ chức nhiều triển lãm về chủ đề “nạn đói”. Thông qua các buổi triển lãm, tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với nhân dân ta. Đồng thời, tranh thủ kêu gọi sự ủng hộ lạc quyên của đông đảo đồng bào đối với nhân dân lao động.


Ảnh: Duy Thông

Thanh toán nạn mù chữ

Dưới chế độ thực dân, phong kiến, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, hơn 90% dân số nước ta bị mù chữ. Nhận thức vấn đề này, ngay sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Chúng ta phải làm cho dân tộc ta không dốt. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

Lúc này, cụ Nguyễn Văn Tố với tư cách là Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, đồng thời là một trong những thành viên hoạt động trong Hội truyền bá Quốc ngữ đã hưởng ứng tích cực. Cụ chủ trương kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa cơ quan học vụ của Nhà nước với các đoàn thể cứu quốc để đưa dân trí đến với hàng triệu đồng bào. Bộ Cứu tế xã hội phối hợp với Nha Bình dân học vụ đào tạo cấp tốc những đoàn cán bộ chuyên trách và đưa về các địa phương gây dựng cơ sở.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Bộ Cứu tế xã hội và Nha Bình dân học vụ đã tổ chức 3 lớp huấn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ bình dân học vụ cho cấp tỉnh, trong đó có 1 số khóa dành đào tạo cán bộ cốt cán là người các dân tộc thiểu số. Khoá huấn luyện đầu tiên ở Thủ đô Hà Nội mang tên là “Khoá học Hồ Chí Minh” khai giảng vào ngày 8.11.1945 đến ngày 24.11.1945 tại trường Kỹ nghệ. Khóa học chủ yếu dành cho cán bộ tỉnh từ Thanh Hóa trở ra. Về dự khóa này có 79 ủy viên và cán bộ, trong số đó có 15 cán bộ nữ. Tiếp đó, khóa huấn luyện mang tên “Phan Thanh” mở từ ngày 18.11.1945 đến ngày 24.11.1945 với 67 uỷ viên và cán bộ bình dân học vụ thuộc các tỉnh Trung Bộ.

Đặc biệt, một khóa huấn luyện dành cho đồng bào miền núi gọi là khóa học Đoàn kết mở từ ngày 28.6.1946 đến ngày 27.7.1946 cho 75 đại biểu thuộc đồng bào dân tộc ít người tham dự. Sau khi tham gia huấn luyện, họ tản về các địa phương trong cả nước tích cực tuyên truyền, vận động và trực tiếp tham gia dạy chữ cho hàng triệu đồng bào. Trong lịch sử, chưa bao giờ dân tộc ta thể hiện được tinh thần ham học và đi học đông đến như thế. Nhờ đó, tỷ lệ người không biết chữ giảm xuống, dân trí nước ta được nâng lên rõ rệt. Hàng triệu đồng bào được tham gia học tập. Lúc này, học tập trở thành nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân. Chữ Cụ Hồ đã đến với mọi nhà, mọi người trong cả nước. Hàng vạn người biết chữ hăng hái xung phong mở lớp giảng dạy. Khắp nơi, từ miền xuôi lên miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng mở lớp và nhân dân nô nức đi học, những em bé 12,13 tuổi đến các cụ già tóc bạc phơ, từ những phụ nữ có con nhỏ đến những người tàn tật. Nhân dân đi học đông đảo, đòi hỏi số lượng giáo viên rất lớn.

Có thể thấy, phong trào “chống giặc dốt” kết hợp chặt chẽ với phong trào “chống giặc đói”, “chống giặc ngoại xâm”, đã phát huy tác dụng đoàn kết mọi người thành một sức mạnh to lớn sát cánh cùng với Chính phủ lâm thời chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua giai đoạn hiểm nghèo. Nhờ sự đồng sức đồng lòng của quần chúng nhân dân mà nạn mù chữ nhanh chóng được thanh toán với hàng triệu người biết đọc, biết viết. Nền giáo dục cải cách với những nội dung mới nhằm nâng cao lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí cách mạng và truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.

Cùng với việc thanh toán nạn mù chữ, những hoạt động văn hoá - nghệ thuật lành mạnh, thắm đượm tính nhân văn sâu sắc. Cả xã hội trở nên vui tươi, khoẻ khoắn, tự tin trong không khí độc lập, tự cường. Tất cả những điều đó không chỉ làm thay đổi bộ mặt tinh thần của xã hội mà nó thực sự nâng cao trình độ nhận thức, làm cho nhân dân hiểu rõ hơn về quyền lợi dân tộc, về nghĩa vụ và quyền lợi của chính bản thân mình.

Sống mãi cùng lịch sử dân tộc Việt Nam

Nguyễn Văn Tố là nhà yêu nước, nhà cách mạng, người chiến sĩ kiên trung của của cách mạng Việt Nam. Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng đều trung thành, tận tụy, hết lòng vì dân, vì nước, cống hiến hết tài năng và sức lực của mình. Với tư cách là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Cứu tế xã hội, tuy thời gian không dài, nhưng ông đã có những đóng góp quan trọng vào việc củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng ngày đầu thành lập, đẩy lùi nạn đói lịch sử, cổ vũ tinh thần cách mạng của nhân dân, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Với tác phong nhanh nhẹn, dứt khoát, gần gũi với những người lao động, Ông đã nhạy bén, chủ động, sáng tạo đưa ra những quyết sách đúng đắn, cùng Chính phủ lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi hiểm nghèo. Hình ảnh một vị Bộ trưởng giản dị, xông xáo, nhân hậu, lăn lộn cùng dân vận động thành lập Hội Cứu đói cùng Chính phủ và toàn dân bảo vệ thành quả cách mạng trong những năm 1945-1946 sống mãi cùng lịch sử dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, khi Đảng, Nhà nước ta đang lãnh đạo cả nước thực hiện những chủ trương lớn để nâng cao đời sống nhân dân như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống ở khu dân cư”; phong trào xóa đói giảm nghèo “Cả nước chung tay vì người nghèo, để không ai bị bỏ lại phía sau”; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới”,... trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã khác rất nhiều so với thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám, nhưng những bài học kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng nhân dân, tác phong đạo đức làm việc của đội ngũ cán bộ của thời kỳ Bộ Cứu tế xã hội mới ra đời và cá nhân Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố vẫn mang giá trị thực tiễn sâu sắc đến ngày nay.

Hoàng Ngọc lược ghi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang