CHÍNH TRỊ
Cập nhật 23:49 | 20/05/2018 (GMT+7)
.
Ngày làm việc thứ ba, Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII:

Thảo luận về Đề án Cải cách chính sách tiền lương

20:44 | 09/05/2018
Tiếp tục chương trình làm việc Hội nghị lần thứ Bảy, chiều 9.5, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII đã thảo luận Đề án Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân, thay mặt Bộ Chính trị, điều hành Phiên thảo luận.

Nhất trí cao việc ban hành Nghị quyết về cải cách chính sách tiền lương

Đầu giờ làm việc buổi chiều, trên cơ sở tiếp thu các ý kiến đóng góp tại tổ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân đã báo cáo làm rõ thêm những điểm mới nổi bật của Đề án cải cách chính sách tiền lương lần này.

Bộ trưởng nhấn mạnh: Đề án cải cách chính sách tiền lương đã được nghiên cứu xây dựng độc lập tương đối và tương quan hợp lý với Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, trong đó tách rõ khu vực công và khu vực doanh nghiệp. Bộ trưởng phân tích, làm rõ 5 quan điểm, các mục tiêu, nhiệm vụ chính và các giải pháp mang tính đột phá để thực hiện Đề án. Trong đó, Bộ trưởng nhấn mạnh, cần quyết liệt thực hiện các giải pháp về tài chính, ngân sách; tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức viên chức; tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị tinh gọn bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công, coi đây là nhiệm vụ đột phá, tiên quyết, để thực hiện cải cách chính sách tiền lương. Đồng thời, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức về cải cách chính sách tiền lương; tích cực xây dựng vị trí việc làm đối với cán bộ, công chức, viên chức lực lượng vũ trang, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng  phát huy vai trò của nhân dân, MTTQ, các đoàn thể chính trị -xã hội trong thực hiện chính sách cải cách tiền lương.

Toàn cảnh Phiên thảo luận Đề án cải cách chính sách tiền lương
Ảnh: Trí Dũng 

Phát biểu tại Hội nghị, các Ủy viên Trung ương bày tỏ nhất trí cao với mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cải cách chính sách tiền lương được xác định trong Đề án; nhất trí cao việc ban hành Nghị quyết của Trung ương về vấn đề này.

Các ý kiến phát biểu đánh giá cao việc chuẩn bị Đề án cải cách chính sách tiền lương công phu, kỹ lưỡng, khoa học, toàn diện, khách quan, các giải pháp có tính khả thi cao. Đề án đã xác định mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của việc cải cách chính sách tiền lương trong từng giai đoạn: 2018 - 2020; 2021 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, đối với khu vực công và khu vực doanh nghiệp. Đa số đại biểu nhấn mạnh chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng, có quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách.

Quan trọng nhất là nguồn lực và tinh giản bộ máy, biên chế

Theo đại biểu Bế Xuân Trường, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Đề án đã đánh giá được các mặt hạn chế, bất cập trong chính sách tiền lương đã và đang thực hiện trong thời gian qua, từ thực tiễn này xây dựng chính sách tiền lương khoa học, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nước ta, phù hợp với chính sách tiền lương của các nước phát triển trên thế giới, mang tính khả thi cao. 5 quan điểm nêu trong Đề án đã bao hàm đầy đủ quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách tiền lương. Đại biểu cho rằng, mục tiêu tổng quát này đã đầy đủ, đúng và phù hợp với xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, đại biểu quan tâm đến việc tổ chức thực hiện với 7 nhóm giải pháp. Quan trọng nhất là nguồn lực thực hiện lấy ở đâu? Huy động như thế nào? Trong Đề án đã đưa ra vấn đề huy động nguồn lực, tinh giản biên chế, tiết kiệm… nhưng theo đại biểu hai vấn đề quan trọng nhất là nguồn lực và tinh giản bộ máy, biên chế.

 Đề án đã đưa ra 3 phương án xây dựng quỹ lương gắn với 3 kịch bản tăng trưởng kinh tế: 7% và 6%, thấp nhất là 5%. Như vậy, việc cải cách chính sách tiền lương gắn liền với kết quả phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở tăng năng suất lao động. Mấu chốt làm được việc này là từ Nghị quyết Trung ương 3, Khóa XI về tái cấu trúc nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện 3 đột phá chiến lược. Thực hiện thành công Nghị quyết này sẽ đưa nền kinh tế thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và phương án tăng trưởng kinh tế 7% sẽ thực hiện được.

Tạo động lực nâng cao hiệu quả, tính năng động, sáng tạo

Đại biểu Phạm Hoài Nam, Tư lệnh Quân chủng Hải quân bày tỏ: Đề án là mong muốn của lực lượng vũ trang, công chức, viên chức. Đánh giá cao đề án được chuẩn bị chu đáo, khoa học, kết cấu phù hợp, đánh giá khách quan, tổng quát, xuyên suốt những kết quả đạt được, không tô hồng, đại biểu cho rằng chính sách tiền lượng hiện còn nhiều tồn tại: Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, chưa tạo động lực để tăng hiệu quả làm việc, tính năng động, sáng tạo của người lao động. Trong lực lượng vũ trang, đa số cán bộ chiến sỹ công tác xa nhà, đời sống khó khăn. Lương phụ cấp rất phức tạp, đa ngành đa nghề, rất nhiều phụ cấp chưa tương xứng với trách nhiệm, quân hàm. Khối doanh nghiệp, tiền lương chưa gắn với năng suất lao động, kết quả lao động, người lao động trực tiếp lương thấp...

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, thay mặt Bộ Chính trị, điều hành Phiên thảo luận.
Ảnh: Phương Hoa –TTXVN 

Nhất trí cao với quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp nêu trong Đề án, đại biểu Phạm Hoài Nam cho rằng, trong quá trình thực hiện cần lưu ý: Điều kiện về thu nhập và chi tiêu của cán bộ ở mỗi vùng miền rất khác nhau, phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng miền. Chế độ đãi ngộ đối với từng cán bộ công chức, từng địa bàn phải phù hợp và đáp ứng được lao động, năng lực của người lao động, tránh tình trạng cào bằng giữa các thành phố, các vùng miền.

Bảng lương ưu tiên cho công chức, viên chức, chuyên gia có trình độ cao; công chức viên chức, chuyên gia giỏi lương sẽ cao hơn lãnh đạo quản lý. Điều này cần làm tốt công tác tư tưởng và xác định thay đổi tâm lý lãnh đạo là lương luôn luôn cao hơn mọi người. Đi đôi với cải cách chính sách tiền lương, cần có chính sách tương ứng với người có công, người nghèo và người hưu trí trước năm 2021. Tiếp tục đảm bảo phụ cấp đặc biệt cho lực lượng quân đội, công an, cho khu vực Trường Sa, DK1, biên giới ...

Đại biểu Ngô Đông Hải, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương cho rằng, Đề án có nhiều điểm mới, đột phá, đặt trong tổng thể các nghị quyết Trung ương ban hành, Đề án có tính khoa học, khả thi cao. Tuy nhiên, đại biểu nêu 3 vấn đề còn băn khoăn, cần làm rõ thêm để hoàn thiện Đề án. Đó là làm thế nào để các quan điểm tư tưởng cải cách tiền lương lần này đi vào thực tiễn, phát huy được hiệu quả, làm sao xây dựng được hệ thống tiền lương hiện đại, phù hợp với các giai đoạn phát triển của đất nước; tiền lương trở thành nguồn thu nhập chính, cơ bản bảo đảm được cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động... Làm thế nào để việc chi trả lương phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, hiệu quả công tác của mỗi vị trí việc làm và tiền lương trở thành động lực để cán bộ, công chức, viên chức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, tạo cơ sở để cải cách hệ thống công vụ hiện đại.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế của chính sách tiền lương thời gian qua, đại biểu cho rằng chủ yếu là do không thực hiện được triệt để việc đưa các chi phí vào lương. Chính vì thế, lương vừa không xác đáng, vừa bình quân, cào bằng. Đồng thời do nguồn lực có hạn, nên trong thực tế tiền lương dù đã được điều chỉnh rất nhiều lần, nhưng đến nay lương vẫn thấp, không theo kịp mặt bằng thị trường; phát sinh quá nhiều phụ cấp và thu nhập ngoài lương, đặc biệt là việc ban hành, quyết định các phụ cấp, các loại thu nhập tăng thêm không theo nguyên tắc nào, dẫn đến rất nhiều phụ cấp đặc thù, làm méo mó quan hệ tiền lương và mất đi vai trò, ý nghĩa của tiền lương nói chung, nhất là tiền lương lúc này không còn là thu nhập chính, không còn vai trò là động lực của cán bộ, công chức. Quá trình cải cách tiền lương ban đầu đặt ra là gắn với cải cách công vụ, nhưng sau đó cải cách tiền lương chủ yếu để làm sao bù được trượt giá, phần nào nâng đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, chính vì thế một lần nữa làm mất đi ý nghĩa của cải cách tiền lương. Tiền lương của khu vực hành chính thấp hơn nhiều các khu vực kinh tế khác nên là một phần chia cắt thị trường lao động, cản trở sự cạnh tranh lành mạnh về lao động, việc làm giữa các khu vực. Đặc biệt là khu vực công mất đi sự thu hút đối với nguồn nhân lực chất lượng cao.

Không tạo áp lực lớn với cân đối ngân sách nhà nước

 Sáng 9.5,  Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại Hội trường bàn về công tác cán bộ. Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã biểu quyết đồng ý để Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Khóa XII Trần Quốc Vượng thôi giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khoá XII; bầu Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương Khóa XII Trần Cẩm Tú giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Khóa XII; bầu Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIV tỉnh Phú Yên Hoàng Văn Trà  giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Khóa XII.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu bổ sung Ủy viên Ban Bí thư khoá XII gồm: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Khóa XII Trần Cẩm Tú.

Trung ương đã xem xét và quyết định thi hành kỷ luật  Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương Đinh La Thăng  bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đánh giá những nội dung cải cách được thể hiện trong Đề án đã cụ thể hóa quan điểm tiền lương là thu nhập chính của người lao động gắn với năng suất lao động, chất lượng lao động, đảm bảo minh bạch, công bằng, trao quyền và trách nhiệm nhiều hơn cho các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc chi trả bảng lương, thưởng theo kết quả lao động. Nhất trí cao với các nhiệm vụ giải pháp cần thực hiện để đạt được các mục tiêu xác định trong Đề án, Bộ trưởng đánh giá đây là những giải pháp đột phá tiên quyết, quyết định mức độ và lộ trình cải cách tiền lương, cùng với việc sửa đổi hoàn thiện các chính sách về thu ngân sách theo hướng mở rộng cơ sở thuế bao quát nguồn thu mới, nhất là khu vực kinh tế phi chính thức.

Bộ trưởng cho biết, trong các phương án tính toán cân đối nguồn lực thực hiện chính sách tiền lương, Bộ thể hiện tinh thần quyết tâm phấn đấu cao, tích cực và đặc biệt là gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 18 và 19 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII; thực hiện các mục tiêu cơ cấu lại ngân sách nợ công bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn bền vững theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị.

Với quyết tâm chính trị cao trong việc cải cách chính sách tiền lương, Bộ trưởng cho biết đã kiến nghị hàng năm dành nguồn thu, tăng thu cao hơn giai đoạn trước đối với cả nguồn ngân sách Trung ương và địa phương để cải cách tiền lương như trong Đề án đã nêu. Theo đó, trường hợp thực hiện đúng các mục tiêu về cơ cấu lại ngân sách theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị, tỷ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 26% tổng chi ngân sách, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên, bội chi ngân sách năm 2020 dưới 3,5% GDP; các năm sau giữ và giảm dần; tùy khả năng nguồn lực tối đa dành để điều chỉnh tiền lương tăng thêm trong các năm đầu năm 2021, 2022 khoảng 35 - 40 nghìn tỷ đồng. Tuy đã tính toán nguồn lực cải cách tiền lương với tinh thần tích cực nhất như trên, nhưng so với nhu cầu để thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo dự thảo Đề án vẫn còn có khoảng cách.

Bộ trưởng cho biết, có thể phải có những điều chỉnh tăng cân đối ngân sách nhà nước. Cụ thể, trường hợp mở rộng quan hệ tiền lương như phương án 1 của Đề án, từ 1-2,34-10 lên 1-2,68-12 đồng thời với điều chỉnh mức tiền lương thấp nhất đạt 4,14 triệu đồng/tháng từ năm 2021, tăng 27,5% thì nhu cầu nguồn lực trong hai năm 2021-2022 khoảng 140 nghìn tỷ đồng; trong đó năm 2021 khoảng 80 nghìn tỷ đồng, năm 2022 khoảng 60 nghìn tỷ đồng. Khi đó để bảo đảm tỷ trọng chi đầu tư phát triển không giảm so với giai đoạn 2016-2020, tức là khoảng 26% tổng chi ngân sách nhà nước thì bội chi ngân sách nhà nước năm 2021-2022 sẽ ở mức 4-4,1% GDP, trong khi năm 2020 chúng ta đang phấn đấu dự kiến bội chi ngân sách nhà nước khoảng 3,4% GDP theo Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng như theo Nghị quyết 25 của QH.

Trong trường hợp giải ngân vốn vay ODA giai đoạn 2016-2020 vượt kế hoạch khoảng 2,4- 2,5% GDP thì nợ công lúc đó khoảng 64,5% GDP, sát ngưỡng trần nợ công QH cho phép.

Trường hợp mở rộng quan hệ tiền lương theo phương án hai của Đề án, tức là từ 1-2,34-10 lên 1-3-15 đồng thời với điều chỉnh mức tiền lương thấp nhất đạt 4,14 triệu đồng/tháng từ năm 2021, thì nhu cầu nguồn lực cho hai năm 2021 và 2022 khoảng gần 210 nghìn tỷ đồng, trong đó năm 2021 khoảng 115 nghìn tỷ đồng, năm 2022 khoảng 95 nghìn tỷ đồng. Cùng với việc tập trung dành nguồn để cải cách tiền lương như trên đồng thời duy trì tỷ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 26% tổng chi ngân sách nhà nước thì bội chi ngân sách nhà nước năm 2021- 2022 sẽ khoảng từ 4,7-5,1% GDP; trong trường hợp này, giải ngân vốn ODA giai đoạn 2016- 2020 vượt kế hoạch như trên thì rủi ro nợ công vượt trần 65% ngay từ năm 2021. Như vậy, nếu ngay từ năm 2021 thực hiện đồng thời cả việc điều chỉnh tiền lương thấp nhất lên 4,14 triệu đồng/người/tháng và kết hợp điều chỉnh quan hệ tiền lương thì mức tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải thiện sớm hơn, lúc này sẽ tăng bình quân lên 26-42% so với năm 2020 nhưng có khả năng sẽ tạo áp lực lớn lên cân đối ngân sách nhà nước và khả năng phải chấp nhận bội chi ngân sách, nợ công những năm đầu ở mức cao.

Do vậy, để xử lý cả yêu cầu cải cách tiền lương và cân đối ngân sách nhà nước, Bộ trưởng đề nghị có thể nghiên cứu thêm phương án chưa thực hiện đồng thời điều chỉnh mức tiền lương thấp nhất và quan hệ tiền lương trong cùng một năm, tức là có thể điều chỉnh tiền lương thấp nhất trong năm đầu nhưng quan hệ tiền lương thì tính toán tùy vào khả năng thực tế của năm 2021. Tức là năm 2021 điều chỉnh mức tiền lương thấp nhất đạt 4,14 triệu đồng/người/tháng, đồng thời tích lũy thêm nguồn để mở rộng thực hiện quan hệ tiền lương vào các năm sau. 

Bộ trưởng nêu quan điểm nhất trí với dự thảo Nghị quyết, trong đó chỉ nêu những định hướng cơ bản mà không ghi cụ thể lộ trình thực hiện như đã thể hiện tại điểm c khoản 3.1 mục II dự thảo Nghị quyết là: Mở rộng quan hệ tiền lương làm căn cứ để xác định mức tiền lương cụ thể trong hệ thống bảng lương, từng bước tiếp cận với quan hệ tiền lương của khu vực thị trường, phù hợp với nguồn lực của nhà nước”…

Anh Phương tổng hợp
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang