Cập nhật 23:17 | 27/06/2017 (GMT+7)
.
Thường trực HĐND tỉnh Điện Biên giám sát tình hình đầu tư và hiệu quả các công trình thủy lợi

Chưa chú trọng bảo dưỡng sau đầu tư

08:05 | 10/01/2017
Qua giám sát, Thường trực HĐND tỉnh Điện Biên nhận định, mặc dù đạt được những kết quả khá tích cực, nhưng công tác đầu tư và hiệu quả của các công trình thủy lợi còn nhiều hạn chế. Đoàn giám sát đã kiến nghị các giải pháp quyết liệt trong công tác quản lý nhà nước, nâng cao ý thức của người dân để nâng cao hiệu quả các công trình.

Nhiều hạn chế trong đầu tư, quản lý, sử dụng

Theo Báo cáo giám sát của Thường trực HĐND tỉnh Điện Biên, trong 467 công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng, sửa chữa giai đoạn 2011 - 2015, có 37 công trình có hiệu quả tưới thực tế đạt dưới 50% công suất so với công suất thiết kế; có công trình chỉ phục vụ cho một số ít hộ dân, chưa phục vụ cộng đồng. Việc tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi chưa đồng bộ, thiếu thống nhất; bảo vệ, quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình sau đầu tư chưa được chú trọng...

Giai đoạn 2011 - 2015, Điện Biên đã huy động hơn 2.717 tỷ đồng đầu tư xây dựng, sửa chữa 497 công trình thủy lợi, nâng tổng số công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh lên con số 866. Trong đó, có 13 hồ chứa, 2 trạm bơm điện, 2 trạm bơm thủy luân và 849 công trình lấy nước bằng đập dâng. Theo đánh giá của Đoàn giám sát của Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh và các sở, ngành chuyên môn đã ban hành nhiều văn bản về đầu tư, quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi. Việc đầu tư đã tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng, khảo sát thiết kế, xây dựng công trình theo các nghị định của Chính phủ. Các dự án sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng cơ bản đã phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi. Nhờ các công trình thủy lợi, nhiều diện tích nương rẫy, đất bỏ hoang đã được khai hoang chuyển thành ruộng nước; tăng thời gian canh tác lên 2 vụ/năm, góp phần hạn chế tình trạng phá rừng làm nương, từng bước thay đổi tập quán canh tác của nhân dân, nhất là đồng bào vùng cao. Diện tích tưới toàn tỉnh từ 23.011,9ha năm 2011 tăng lên 28.034,2ha năm 2015...

Tuy nhiên, Thường trực HĐND tỉnh cũng chỉ ra: Việc đầu tư, quản lý, sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Trong đó: Việc phối hợp giữa chủ đầu tư với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi một số nơi chưa chặt chẽ. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa chú trọng nhiều đến hiệu quả sau đầu tư. Một số dự án không xây dựng phương án khai hoang, tạo bãi tưới; lựa chọn đơn vị tư vấn hạn chế về năng lực, chất lượng khảo sát thiết kế không đạt yêu cầu. Một số nhà thầu yếu về năng lực thi công dẫn đến công trình không bảo đảm tiến độ, chất lượng, phải sửa chữa nhiều lần; có công trình nhanh chóng bị xuống cấp, hư hỏng. Việc thiết kế một số công trình chưa sát so với mục tiêu, nhiệm vụ; diện tích bãi tưới được thiết kế cao hơn so với diện tích bãi tưới thực tế, nguy cơ không bảo đảm diện tích khai hoang theo công năng thiết kế như công trình thủy lợi Na Tung (TX. Mường Lay), Na Pne (huyện Điện Biên). Một số dự án kéo dài tiến độ phải gia hạn hoặc phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần (hồ Ẳng Cang, huyện Mường Ảng; hồ Nậm Khẩu U, huyện Điện Biên); đầu tư không đồng bộ, mới đầu tư đập đầu mối, kênh chính, chưa đầu tư xây dựng kênh mương nội đồng (hồ Nậm Ngám, huyện Điện Biên Đông).


Đoàn giám sát HĐND tỉnh kiểm tra thực địa công trình thủy lợi Là Xa, xã Tả Phìn, huyện Tủa Chùa

Chỉ rõ nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan về địa hình, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất; nguồn vốn đầu tư chưa đáp ứng; một số chính sách của nhà nước chưa phù hợp… qua giám sát, Thường trực HĐND tỉnh cho rằng còn có nhiều nguyên nhân chủ quan cần được quan tâm, khắc phục. Đó là: Một số chủ đầu tư thiếu kiểm tra, xác minh ngay từ giai đoạn chuẩn bị, dẫn đến quyết định đầu tư về quy mô dự án, năng lực thiết kế không sát thực tế, nên công trình phát huy hiệu quả kém. Một số chủ đầu tư, chính quyền cấp huyện, cấp xã chủ yếu quan tâm về xây dựng, chưa quan tâm đến khai hoang và công tác quản lý, hiệu quả sử dụng.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cho khai thác, quản lý các công trình thủy lợi ở cấp xã, tổ hợp tác còn hạn chế về trình độ. Cơ quan quản lý nhà nước chưa tích cực, chủ động trong kiểm tra, đánh giá mô hình quản lý, khai thác công trình thủy lợi để nhân rộng, phát huy hiệu quả. Công tác tuyên truyền còn hạn chế, chưa tạo được sự hưởng ứng tích cực và tham gia của người dân vào đầu tư, khai thác, bảo vệ, tu bổ công trình thủy lợi, khai hoang tăng vụ để nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi…

Trên cơ sở rõ thực trạng và nguyên nhân, Thường trực HĐND tỉnh kiến nghị Chính phủ nâng mức hỗ trợ khai hoang, cải tạo đất trồng lúa theo Quyết định số 2621/QĐ-TTG và theo Nghị định 35/NĐ-CP từ 15 triệu đồng lên 30 triệu đồng/ha đối với khai hoang và cải tạo thành ruộng bậc thang; từ 10 triệu lên 20 triệu đồng/ha phục hóa; nâng mức hỗ trợ đầu tư hàng năm cho tỉnh, ưu tiên bố trí kế hoạch vốn cho các dự án đã hoàn thành, dự án tiếp chi còn nợ khối lượng; bố trí vốn để triển khai sửa chữa, nâng cấp một số công trình thủy lợi đã được Bộ NN - PTNT phê duyệt…

Đoàn giám sát cũng kiến nghị HĐND, UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung một số văn bản; điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển thủy lợi của tỉnh giai đoạn 2005 - 2020. Chỉ đạo các chủ đầu tư thực hiện đúng quy trình, thủ tục quản lý đầu tư xây dựng; ưu tiên bố trí nguồn vốn để sớm hoàn thành các dự án chậm tiến độ. Kiểm tra, rà soát để có giải pháp khắc phục đối với các công trình đã đầu tư nhưng kém hiệu quả. Kiểm tra chặt chẽ các điều kiện về diện tích tưới, khả năng, phương án khai hoang tạo bãi tưới, bố trí vốn đầu tư trước khi phê duyệt đầu tư các công trình thủy lợi...

HOA HUYỀN
Quay trở lại đầu trang