Cập nhật 22:38 | 07/12/2019 (GMT+7)
.

Cơ sở quan trọng để làm nên chất lượng giáo dục đại học là đội ngũ cán bộ, giảng viên và cơ sở vật chất thiết bị dạy học

17:20 | 25/05/2012
Thảo luận về dự thảo Luật Giáo dục đại học, hầu hiết các ý kiến đều tán thành việc ban hành Luật trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, cấp bách, góp phần tạo ra hành lang pháp lý đủ mạnh, thuận lợi và thống nhất để điều chỉnh toàn diện các vấn đề liên quan đến giáo dục đại học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ, có chất lượng trong giai đoạn mới. Tuy nhiên vẫn còn ý kiến băn khoăn về một số vấn đề…

ĐBQH Triệu Thị Nái (Hà Giang): Quan tâm hơn tới đối tượng là người dân tộc thiểu số
 
Khoản 1, Điều 63 quy định: Người học trong cơ sở giáo dục đại học được hưởng các chính sách về học bổng và trợ cấp xã hội, chế độ cử tuyển, tín dụng giáo dục, miễn giảm dịch vụ công cộng theo quy định tại các Điều 89, Điều 90, Điều 91 và Điều 92 của Luật Giáo dục. Nếu chỉ viện dẫn vào 4 điều này để thực hiện trong Luật Giáo dục đại học đối với chính sách cũng như người học thì chưa toàn diện, chưa đầy đủ, đồng thời chưa bao quát hết các đối tượng học cũng như các chính sách hiện nay mà Đảng, Nhà nước đang thực hiện và dành sự ưu tiên hỗ trợ cho các đối tượng được hưởng quyền lợi này trong giai đoạn hiện nay với các lý do như sau. Thứ nhất, người học được quy định trong Luật Giáo dục bao gồm tất cả học sinh, sinh viên, học viên học chính quy hoặc thường xuyên ở tất cả các cấp học và các ngành học cũng như trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Người học trong các cơ sở giáo dục đại học là những sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh được đào tạo các trình độ cao đẳng đại học, thạc sỹ và tiến sỹ. Vì vậy, đối tượng ở đây là khác nhau và bậc học cũng khác nhau cho nên quy định về chính sách học bổng trợ cấp và các hình thức miễn giảm học phí cũng như các hỗ trợ khác cũng không thể giống nhau. Ví dụ như hiện nay chúng ta đang thực hiện miễn giảm phí dịch vụ công cộng về giao thông, giải trí cũng như tham quan bảo tàng di tích lịch sử và các công trình văn hóa cho học sinh và sinh viên. Cũng không nhất thiết là thực hiện cho cả học viên và nghiên cứu sinh học thạc sỹ và tiến sỹ. Do vậy, người học ở đây cũng cần phải được phân biệt và cũng phải thể hiện rõ ràng hơn trong Luật Giáo dục đại học. Ngoài các đối tượng người học và các chính sách được quy định tại các Điều 89, 90, 91 và 92 trong Luật Giáo dục, hiện nay Chính phủ cũng có Nghị định số 49 ngày 14/5/2010 quy định về miễn giảm học phí hỗ trợ chi phí hoạt động cơ cấu thu chi sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010, 2011, 2014 và 2015. Có quy định về miễn giảm học phí cho người học ở một số ngành đặc thù và một số chuyên ngành nặng nhọc và độc hại khác. Trong 4 điều quy định về chính sách đối với người học ở Luật Giáo dục không có đối tượng đặc thù này cho nên Ban soạn thảo nên bổ sung thêm đối tượng này vào trong dự thảo Luật.

Bên cạnh đó, Ban soạn thảo nên nghiên cứu, quy định cụ thể, rõ ràng, toàn diện hơn vì các nhóm đối tượng cũng như các chính sách hiện nay người học đang được thụ hưởng, trong tương lai có thể sẽ phải bổ sung thêm những chính sách khác. Riêng về vay vốn tín dụng đối với sinh viên nói chung, hộ nghèo, hộ cận nghèo nói riêng, dân tộc thiểu số, đề nghị tới đây Chính phủ nghiên cứu theo hướng phải giảm lãi suất và kéo dài thời gian cho vay hợp lý và việc trả nợ sau khi học ra trường, hiện nay vấn đề cho sinh viên vay cũng được tăng lên qua thời gian, qua các giai đoạn, thực hiện 900 nghìn đồng/1 tháng lên 1.000.000 đồng/tháng và mức lãi suất thì từ 0,5% và cũng đã tăng lên 0,85%/tháng. Riêng với đối tượng là sinh viên người dân tộc thiểu số, chúng tôi muốn chính sách nghiên cứu và theo hướng giảm lãi suất này. Về việc thi và xét tuyển đầu vào cũng đề nghị Chính phủ xem xét cho phép có thể khi tuyển đầu vào ở các cơ sở giáo dục đại học nên ưu tiên cộng điểm theo vùng đối với con em dân tộc thiểu số không ở diện cử tuyển mà tự ôn thi và thi được để có đầu vào các trường, đặc biệt ưu tiên hơn đối với con em dân tộc thiểu số có dân số rất ít, chưa có hoặc có rất ít người theo học trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ.
 
ĐBQH Đàng Thị Mỹ Hương (Ninh Thuận): Hội đồng trường là thiết chế không thể thiếu đối với cơ sở giáo dục đại học công lập
 
Về nội dung Hội đồng trường đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập quy định tại Điều 15 và Hội đồng quản trị đối với các cơ sở giáo dục đại học tư thục ở Điều 16, tôi tán thành với nhận định của UBTVQH. Hội đồng trường là một thiết chế không thể thiếu đối với cơ sở giáo dục đại học công lập, vì thành lập Hội đồng trường chính là để giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học và việc quy định thành lập hội đồng trường phù hợp với Luật Giáo dục năm 2005 và với Điều lệ trường đại học năm 2011, Điều lệ trường cao đẳng năm 2008. Với những nội dung được quy định về Hội đồng trường Điều 15 tôi nhận thấy cũng phù hợp rõ ràng từ định nghĩa cho đến nguyên tắc hoạt động, về cơ cấu tổ chức, chức năng quyền hạn, nhiệm vụ hội đồng của trường. Quy định như dự thảo luật sẽ giúp cho các hội đồng trường hoạt động nề nếp, khắc phục được những bất cập trước đây, góp phần làm cho hệ thống giáo dục đại học của nước ta hoạt động một cách lành mạnh, công khai, có tính tự chủ cao và tính chịu trách nhiệm trước xã hội về hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, để hội đồng trường, hội đồng quản trị ở các cơ sở giáo dục đại học hoạt động bảo đảm có chất lượng, có hiệu quả, tôi đề nghị Bộ GD - ĐT cần có quy định, hướng dẫn tổ chức thực hiện một cách chi tiết, dễ nhận biết, dễ hiểu, dễ thực hiện, gắn trách nhiệm, quyền hạn một cách cụ thể đối với từng đối tượng trong hội đồng. Cũng cần quy định các mối quan hệ giữa các tổ chức tham gia trong hội đồng. Quy định có sự kiểm tra, giám sát xử lý sai phạm một cách đúng mực sẽ tránh được việc hoạt động hình thức không hiệu quả, tránh sự nhìn nhận không đúng về hội đồng trường.

Điều 11 chính sách của nhà nước phát triển giáo dục đại học, Khoản 5 của Điều này có quy định: Nhà nước đặt hàng và đảm bảo kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đối với cơ sở giáo dục đại học có tiềm lực về khoa học công nghệ. Với quy định Nhà nước đặt hàng như đã nêu, tôi thắc mắc có nhất thiết quy định nội dung này trong dự thảo luật hay không? Quy định Nhà nước phải bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ đối với cơ sở giáo dục đại học có tiềm lực về khoa học công nghệ thành một khoản riêng như vậy là có yếu tố ưu ái đối với đối tượng này không biết có đúng không?...
 
ĐBQH Phan Văn Tường (Thái Nguyên): Đại học vùng được xác định bởi những tiêu chí nào?
 
Điểm c, Điều 7 quy định về cơ sở giáo dục đại học. Trên thực tế đại học vùng ít được dùng mà thường gọi trực tiếp như Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, tên gọi đó gắn liền với lịch sử thành lập và địa danh cụ thể của đơn vị cấp tỉnh. Khi luật ban hành các đại học trên gọi như thế nào để bao quát cho một vùng? Tiêu chí một đại học vùng sẽ được xác định bởi những tiêu chí gì, về đất ở rộng hẹp, quy mô đào tạo hay nhiệm vụ hoặc phạm vi tuyển sinh hay tiêu chí gì nữa ngoài 4 tiêu chí ở ý 1, Điều 8? Thực tiễn hiện nay đại học vùng cũng như các trường đại học đều tuyển sinh trên phạm vi cả nước và không có một đại học nào chỉ thực hiện đào tạo nhân lực cho một vùng hay một địa phương. Các vấn đề liên quan đến đất đai, tín dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thông tin, báo cáo giám sát, thanh tra, kiểm tra trong dự thảo luật đều liên quan đến một đơn vị tỉnh, thành phố cụ thể chứ không đề cập đến vùng. Ngoài ra tổ chức đại học vùng còn liên quan đến cải cách hành chính và liên quan đến tài chính, đến đóng góp của người học. Khi tổ chức ra một bộ máy trung gian trên trường, dưới Bộ sẽ tăng chi phí cho đào tạo mà lại giảm tính tích cực, chủ động và tự chủ của các trường thành viên. Do vậy, tôi đề nghị bỏ ý c, Điều 7 và những nội dung liên quan đến đại học vùng ở trong luật.

Tôi đồng ý nên để và xây dựng Đại học quốc gia trong luật, nhưng nên bỏ Điều 27, Điều 28 về Đại học quốc gia vì, thứ nhất đã gắn liền với truyền thống, thương hiệu của một thế kỷ qua, với vai trò đặc biệt tiêu biểu cho giáo dục Việt Nam, với sứ mạng đào tạo, nghiên cứu chất lượng cao, đặc biệt nổi trội vai trò đi đầu, tiên phong đổi mới của giáo dục Đại học quốc gia. Sự tiên phong đi đầu đó trong đổi mới sẽ có cả thành công và không thành công, sẽ có lĩnh vực được chấp nhận và chưa được chấp nhận. Do đó cần có chính sách, cơ chế quản lý đầu tư phù hợp và phải có Đại học quốc gia để phân biệt với các đại học khác làm nhiệm vụ ấy. Thứ hai, nếu cho quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thuộc tính cơ bản của giáo dục đại học là yêu cầu khách quan phù hợp với xu thế của giáo dục đại học hiện nay thì không nên xây dựng Điều 27, Điều 28 mà chỉ xác định nguyên tắc thứ nhất vì Đại học quốc gia và các nội dung, lĩnh vực tự chủ, tự chịu trách nhiệm như các đại học khác, còn có lĩnh vực phải nghiên cứu tìm tòi do nhu cầu của sự phát triển hoặc do yêu cầu của quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử và điều kiện cụ thể của đất nước. Đào tạo và nghiên cứu theo yêu cầu của quốc gia, dân tộc là thể hiện rõ nét nhất tính định hướng và tự chủ của Đại học quốc gia. Đó là một trong những tiêu chí đặc trưng và phân biệt Đại học quốc gia với đại học khác. Do vậy, các vấn đề liên quan đến Đại học quốc gia nên để Chính phủ quy định, bảo đảm sự kịp thời và linh hoạt.
 
ĐBQH Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng): Phân biệt rõ loại hình dịch vụ giáo dục vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận
 
Xã hội hóa giáo dục đại học là chủ trương đưa ra từ nhiều năm nay, đã có nhiều văn bản quy định nhưng việc triển khai còn rất chậm, thậm chí lệch hướng sang thương mại hóa giáo dục đại học. Với quy định tại Khoản 3, Điều 7 dự thảo luật về cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước chúng ta đã chính thức chấp nhận sự tồn tại của thị trường giáo dục và đồng nghĩa với việc chấm dứt cuộc tranh luận là có hay không có, nên chấp nhận hay không chấp nhận loại thị trường này ở nước ta.

Thực ra sự tồn tại thị trường giáo dục không phải là thảm họa, tuy nhiên cần phải đưa vào luật phân biệt như thế nào cho rõ ràng hai loại hình dịch vụ giáo dục, đó là dịch vụ vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận, có như thế thì mới có những chính sách phù hợp với mỗi loại hình. Nhưng quy định như dự thảo Luật theo tôi chưa ổn. Cụ thể tại Khoản 7, Điều 4 giải thích: cơ sở giáo dục đại học tư thục là cơ sở giáo dục loại hình có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận, nếu cần lợi nhuận tích lũy hàng năm là tài sản chung không chia để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học. Các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hàng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ. Theo Điều 16 trường tư thục thành lập Hội đồng quản trị là tổ chức đại diện duy nhất cho quyền sở hữu nhà trường có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, đây là cơ quan có thẩm quyền và quyết định cao nhất về đường lối phát triển của nhà trường theo như quy chế tổ chức và hoạt động của trường tư thục. Từ những quy định trên cho thấy việc chấp nhận chia lợi tức và dành thẩm quyền cao nhất cho các cổ đông ở trường tư thục không khác gì nguyên tắc tổ chức hoạt động của công ty cổ phần. Tôi rất tiếc là dự thảo luật đang duy trì tình trạng không rõ ràng về mục đích hoạt động vì lợi nhuận, không vì lợi nhuận và kéo dài sự ưu đãi của Nhà nước cho những cơ sở kinh doanh giáo dục. Tôi đề nghị Ban soạn thảo cần cân nhắc, làm rõ vấn đề này.

Thứ hai, về gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học và với đơn vị sử dụng lao động. Thực tế ở nước ta nhiều cơ sở đào tạo chưa thấy nghiên cứu khoa học là một khâu không thể thiếu trong chương trình đào tạo để bảo đảm chất lượng giảng dạy, học tập. Thậm chí phần lớn các trường ngoài công lập không bố trí kinh phí cho công tác này. Về phía giảng viên thì do số giờ giảng cao đem lại thu nhập tức thời và cao hơn thu nhập từ nghiên cứu khoa học, đồng thời do ngại tiến hành các thủ tục như đăng ký đề tài, đấu thầu, nghiệm thu, quyết toán... cho nên ít dành thời gian tham gia nghiên cứu khoa học và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là các cơ sở giáo dục đào tạo và các cơ sở nghiên cứu khoa học ở nước ta là hai hệ thống độc lập với nhau. Bên cạnh đó thì giữa các trường đại học, cao đẳng với các đơn vị sử dụng lao động, trong đó có doanh nghiệp, cũng chưa thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ mới dẫn đến hệ quả là đào tạo không đáp ứng nhanh được yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động, do đó tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm phù hợp hoặc là tương đối phù hợp với ngành nghề đào tạo ngay sau khi tốt nghiệp không cao. Từ thực tế trên, Khoản 4 Điều 11 của dự thảo quy định chính sách của Nhà nước là "gắn đào tạo với nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh cơ sở hợp tác giữa cơ sở đào tạo giáo dục đại học với cơ sở nghiên cứu khoa học và với doanh nghiệp. Tuy nhiên, hầu hết các khoản của Điều 11 chỉ mới dừng lại quy định về chính sách chứ không ràng buộc trên thực tế. Ví dụ chính sách gắn đào tạo với việc sử dụng lao động thì không được quy định ở bất kỳ điều, khoản nào trong dự thảo Luật. Do đó, tôi đề nghị phải quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện để các chính sách này mang tính khả thi.
 
ĐBQH Nguyễn Xuân Trường (Hải Phòng): Cần có quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức kiểm định chất lượng
 
Tôi thống nhất về mô hình hệ thống giáo dục đại học và cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục đại học được ghi tại Điều 7, cơ cấu giáo dục đại học, Điều 13, Điều 14, cơ cấu tổ chức của các trường đại học, cao đẳng, học viện để bảo đảm cơ cấu tổ chức, thực hiện quản lý và triển khai thực hiện nhiệm vụ của các trường đại học, trường cao đẳng, học viện theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Hai, về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học, trong luật đã giao cho các cơ sở giáo dục đại học quyền quyết định đồng thời vẫn bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục đại học. Cụ thể về tuyển sinh, các trường có quyền tự chủ xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu tuyển sinh theo khả năng của đơn vị, song Bộ GD - ĐT quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và ban hành quy chế tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học. Về mở mã ngành, chuyên ngành đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học chủ động xây dựng đề án, mở mã ngành, chuyên ngành đào tạo, khi có đủ điều kiện thì được Bộ GD - ĐT cấp phép và đình chỉ các ngành đào tạo nếu vi phạm quy định của luật đã được ghi tại Điều 34, mở mã ngành, chuyên ngành và Điều 35, chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh.

Về kiểm định chất lượng giáo dục đại học, tôi cho rằng đây là một vấn đề mới của giáo dục đại học. Dự thảo luật đã có hẳn một chương là Chương VII, có 5 điều từ Điều 50 đến Điều 54 quy định về kiểm định chất lượng, cơ bản đã chỉ rõ về trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học và trách nhiệm của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Tuy nhiên, để tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học thực hiện tốt và có cơ sở pháp lý, tôi đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung thêm một điều quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức kiểm định chất lượng…
 
ĐBQH Lê Tuấn Tứ (Khánh Hòa): Cần có quy định Hội đồng trường trong cơ sở giáo dục đại học công lập và Hội đồng quản trị trong cơ sở giáo dục đại học tư thục
 
Tôi thống nhất cần có quy định Hội đồng trường trong cơ sở giáo dục đại học công lập và Hội đồng quản trị trong cơ sở giáo dục đại học tư thục. Trong Báo cáo giải trình dự thảo Luật, UBTVQH cũng cho rằng việc quy định Hội đồng trường là thiết kế cần thiết bắt buộc trong các cơ sở giáo dục có quyền tự chủ, quyền tự chịu trách nhiệm. Với tính chất quan trọng như vậy, tôi đề nghị, đối với các cơ sở giáo dục đại học do Nhà nước đầu tư xây dựng nên quy định chức danh Chủ tịch Hội đồng trường do hiệu trưởng hoặc giám đốc kiêm nhiệm và được thủ trưởng, cơ quan chủ quản cấp trên bổ nhiệm. Có như vậy mới bảo đảm hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội đồng trường và bảo đảm quyền kiểm soát của chủ sở hữu Nhà nước. Một đơn vị sự nghiệp giáo dục hoạt động khác với một doanh nghiệp. Chúng ta cũng không nên ngại rằng vì nếu hiệu trưởng nhà trường kiêm Chủ tịch Hội đồng trường thì dẫn đến chuyên quyền, độc đoán. Tôi nghĩ rằng bên cạnh Hội đồng trường còn có tập thể Đảng ủy, tập thể Ban giám hiệu, tập thể Ban giám đốc, Công đoàn, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu nội bộ, điều lệ trường và các văn bản khác chi phối. Cho nên hiệu trưởng nhà trường không thể chuyên quyền được. Tôi đề nghị giao chức danh Chủ tịch Hội đồng nhà trường cho hiệu trưởng nhà trường để có đủ điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
 
ĐBQH Phạm Thị Hồng Nga (Hà Nội): Phân tầng giáo dục đại học một cách khoa học là rất cần thiết
 
Giáo dục đại học nước ta thời gian qua có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô cũng như số lượng các cơ sở đào tạo. Song hai cơ sở quan trọng để làm nên chất lượng giáo dục đại học còn hạn chế đó là đội ngũ cán bộ giảng viên và cơ sở vật chất thiết bị dạy học, đặc biệt là chất lượng đội ngũ giảng viên. Từ năm 1987 đến năm 2009 đội ngũ giảng viên đại học chỉ tăng 3 lần, trong khi số sinh viên tăng 13 lần. Tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sỹ trở lên chiếm chưa tới 50%, tiến sỹ chiếm 10% và chỉ có 3,74% giảng viên có chức danh Giáo sư, Phó giáo sư. Với số lượng và chất lượng giảng viên đại học như vậy thì chưa thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Vì vậy, tôi nhất trí với Khoản 3, Điều 55 về trình độ chuẩn đối với chức danh giảng viên.

Về phân tầng cơ sở giáo dục đại học, theo truyền thống hệ thống các trường đại học của một nước phát triển bao gồm các đại học nghiên cứu, đại học đa ngành theo hướng ứng dụng và các trường cao đẳng đào tạo nghề nghiệp cho kỹ thuật viên. Mỗi loại hình trường có mục tiêu đào tạo khác nhau và mức độ đầu tư cũng khác nhau. Sự phân tầng đại học nhằm tránh việc đầu tư dàn trải, đồng thời tạo điều kiện đào tạo đội ngũ nhân lực hài hòa theo nhu cầu xã hội. Trong bối cảnh tiềm lực kinh tế đầu tư cho giáo dục đại học ở nước ta còn hạn chế thì sự phân tầng cơ sở giáo dục đại học để định hướng việc đầu tư hợp lý là rất quan trọng. Các cơ sở giáo dục đại học được phân tầng thành đại học nghiên cứu, đại học ứng dụng và các trường cao đẳng huấn luyện nghề nghiệp.

Về tiêu chí phân tầng, cơ sở giáo dục đại học nghiên cứu là các trường đại học thực hiện chương trình đào tạo theo định hướng nghiên cứu, đào tạo trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ chất lượng cao, trong đó quy mô đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ đạt tỷ lệ ít nhất 40% so với tổng số quy mô đào tạo và có kết quả cao về nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Cơ sở giáo dục đại học ứng dụng gồm các trường đại học thực hiện chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng đào tạo trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, trong đó quy mô đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ đạt dưới 40% so với tổng quy mô đào tạo. Cơ sở giáo dục đào tạo nghề nghiệp gồm các trường cao đẳng thực hiện chương trình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp, đào tạo đến trình độ cao đẳng. Trên cơ sở phân tầng này Điều lệ trường đại học thường quy định xếp hạng chất lượng trong từng nhóm trường dựa vào kết quả kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo chất lượng đào tạo và kết quả nghiên cứu khoa học để có chính sách đầu tư giao nhiệm vụ và thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phù hợp với vị trí vai trò năng lực, bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học. Theo đó nhà nước đầu tư ngân sách có trọng điểm để hình thành một số cơ sở giáo dục đại học chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới…

Vấn đề phân tầng giáo dục đại học một cách khoa học là rất cần thiết phù hợp với điều kiện nước ta không những trong thời gian trước mắt mà còn hướng tới tương lai phát triển lâu dài của giáo dục đại học nước nhà.

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang