Sáng 27.3, dưới sự chủ trì của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, UBTVQH đã cho ý kiến về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII.
Tờ trình về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII do Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm VPQH Nguyễn Hạnh Phúc trình bày nêu rõ, Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII dự kiến sẽ diễn ra trong 24 ngày, khai mạc ngày 21.5 và bế mạc vào ngày 22.6. Tại Kỳ họp lần này, QH sẽ xem xét các báo cáo bổ sung về đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2012. Xem xét thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2010; một số cải tiến đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH; Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế. QH cũng xem xét báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Báo cáo công tác của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH...; xem xét, thông qua 13 dự án Luật, 1 dự thảo Nghị quyết và cho ý kiến về 7 dự án luật.
Các Ủy viên UBTVQH cơ bản thống nhất với Tờ trình về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII. Tuy nhiên, đối với nội dung biểu quyết những vấn đề quan trọng của dự án luật sau khi được QH cho ý kiến, làm định hướng cho việc tiếp thu, chỉnh lý thông qua tại kỳ họp tiếp theo, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Nguyễn Kim Khoa cho rằng nếu thực hiện biểu quyết ngay, sẽ còn một số vấn đề chưa đủ điều kiện làm cơ sở cho việc thực hiện biểu quyết của các ĐBQH. Thực tế, phải thông qua quá trình trao đổi, thảo luận, hội thảo lấy ý kiến chuyên gia về nội dung cần biểu quyết, ĐBQH mới có những quyết định chính xác để thực hiện biểu quyết. Đồng tình với quan điểm này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý nêu rõ, UBTVQH đưa ra dự kiến trên cơ sở đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra là Hội đồng Dân tộc hay các Ủy ban của QH. Do đó, vấn đề ở đây là Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, cơ quan chủ trì thẩm tra có nhu cầu đề xuất trình QH biểu quyết đối với vấn đề này không thì phải xét các mặt: thứ nhất, là sự chuẩn bị của các UB, Hội đồng Dân tộc, cơ quan chủ trì thẩm tra đến đâu; thứ hai, thông tin thu được đã đủ chưa; thứ ba, vấn đề nêu ra đã cần phải có sự biểu quyết của QH chưa và biểu quyết có gì khó khăn không.
Quan tâm đến nội dung các phiên họp phát thanh truyền hình trực tiếp tại Kỳ họp thứ Ba, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng, nên chọn các nội dung truyền hình trực tiếp có tính xã hội rộng lớn, mang tính dân chủ cao. Nội dung truyền hình trực tiếp cần được phân bổ thời gian thích hợp để người dân theo dõi diễn biến sinh động của kỳ họp. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý đề nghị bổ sung thêm nội dung phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên thảo luận về dự án Luật Giáo dục đại học, dự án Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá. Việc truyền hình trực tiếp phải thực hiện đa dạng về nội dung; không nên chỉ trực tiếp một mảng, hoặc một loại vấn đề, vì sinh hoạt QH rất đa dạng và cử tri cũng quan tâm đến nhiều vấn đề khác nhau.
Buổi chiều, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Tòng Thị Phóng, UBTVQH đã cho ý kiến vào Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi).
Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi), Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho rằng, kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, Nhà nước sử dụng công cụ mức tiền lương tối thiểu để quản lý và điều tiết tiền lương phù hợp với thị trường lao động. Hiện nay, mức tiền lương tối thiểu đang được theo bốn vùng kinh tế - địa lý và thống nhất chung giữa các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức lương tối thiểu của cán bộ, công chức vẫn khác biệt so với mức lương tối thiểu tại khối doanh nghiệp. Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho rằng, đây là vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình cải cách tiền lương khu vực nhà nước, hướng tới xây dựng một mức lương tối thiểu chung cho toàn xã hội. Chính phủ sẽ điều chỉnh mức lương này khi chỉ số giá tiêu dùng thay đổi nhằm bảo vệ người lao động, hài hòa được lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động. Một số Ủy viên UBTVQH cho rằng, cần cân nhắc việc xây dựng mức lương tối thiểu đối với công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan Nhà nước. Nguyên nhân do đây là lực lượng lao động công vụ, có điều kiện tuyển dụng khắt khe nên cần được trả lương cao hơn mức chỉ bảo đảm những nhu cầu tối thiểu. Cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra cần phối hợp để nghiên cứu xây dựng mức lương cơ bản với khu vực Nhà nước, mức lương tối thiểu với khu vực doanh nghiệp.
Về hợp đồng lao động, Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội nêu rõ, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng nên từ 12 đến 72 tháng để giúp người chủ sử dụng và người lao động linh hoạt trong ký kết hợp đồng. Quy định này cũng không cản trở quyền quyết định của hai bên trong việc xác định thời gian cụ thể khi giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn. Tuy nhiên, một số ý kiến nhấn mạnh, trên thực tế, trong lần ký kết đầu tiên chủ doanh nghiệp chỉ ký hợp đồng 1 năm, sau đó ký hợp đồng 3 năm. Như vậy, cần 4 năm thì người lao động mới có thể được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Do đó, nếu theo phương án được Thường trực Ủy ban lựa chọn thì người lao động sẽ phải mất nhiều thời gian hơn mới được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Trong khi đó, tại doanh nghiệp dệt may, thủy sản thường có xu hướng chỉ sử dụng lao động trong 6 năm, sau đó sẽ tuyển lao động mới. Điều này đồng nghĩa nếu kéo dài thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng thì người lao động dệt may, thủy sản sẽ có nhiều bất lợi. Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu, cần quy định về thời hạn chấm dứt hiệu lực của hợp đồng theo hướng có lợi nhất cho người lao động, cũng như không ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Về vấn đề giải quyết tranh chấp lao động, Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho rằng, trong giải quyết tranh chấp lao động và đình công, công đoàn, hòa giải viên lao động có vai trò rất quan trọng. Do đó, đối với nơi chưa có tổ chức công đoàn, chưa ký kết thỏa ước lao động tập thể thì ngoài việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động theo pháp luật cần khuyến khích doanh nghiệp lựa chọn các thỏa ước lao động tập thể có sẵn hoặc thỏa ước tập thể ngành để thực hiện. Công đoàn cấp trên có vai trò hỗ trợ tập thể lao động trong giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này. Đồng tình với quan điểm này, nhiều Ủy viên UBTVQH cho rằng, hướng đi này sẽ góp phần thúc đẩy nhu cầu thành lập tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người lao động. Việc xây dựng cơ chế hòa giải chuyên nghiệp cũng sẽ hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, giảm thiểu cơ chế can thiệp hành chính trong giải quyết tranh chấp lao động. Và cần được tăng cường hoạt động để thay đổi cơ bản tình hình đình công không theo trình tự pháp luật trong thời gian vừa qua.
Về hợp đồng lao động vô hiệu, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho rằng, hợp đồng lao động là một loại hợp đồng dân sự, trong khi đó, xu hướng chung trên thế giới là chỉ tòa án mới được quyết định vô hiệu hợp đồng dân sự. Nếu quy định của luật pháp nước ta vênh với luật pháp trên thế giới thì sẽ khó xử lý với những lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, cũng như hỗ trợ người lao động làm việc tại nước ngoài khi có tranh chấp lao động. Ngoài ra, cơ quan tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu còn phải giải quyết hậu quả của quyết định này. Mà liên quan đến tiền, tài sản thì thanh tra lao động không đủ thẩm quyền thực hiện. Song, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho rằng, hiện nay con đường đi đến tòa án còn dài và khó khăn với người dân nói chung, cũng như người lao động nói riêng. Do đó, trước mắt, cần để thanh tra lao động được quyền quyết định hợp đồng lao động vô hiệu nhằm giúp người lao động có điều kiện can thiệp vào những hợp đồng trái pháp luật.