Sử dụng chế phẩm sinh học: Giải pháp nuôi tôm công nghiệp sạch và bền vững

16:52 | 05/11/2019
Tận dụng bã thải nấm men từ việc sản xuất bia, nhóm Hợp tác nghiên cứu FIRST - BCC do Công ty cổ phần Hóa sinh Việt Nam là thành viên đứng đầu đã ứng dụng công nghệ để sản xuất ra chế phẩm β-glucan và probiotic - đa enzyme sử dụng trong nuôi tôm công nghiệp thay thế kháng sinh và hoá chất diệt khuẩn độc hại. Các chế phẩm có tác dụng kích thích miễn dịch, kháng khuẩn, kháng virus, tăng cường sức đề kháng cho tôm, nâng cao giá trị tôm nuôi.

Để rõ hơn thông tin, phóng viên đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Văn Năm – Phó chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam, Giám đốc Công ty cổ phần Hóa sinh Việt Nam (BCC). 

Xu hướng sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm

- Thưa ông, ông có thể chia sẻ bức tranh tổng thể của ngành chế biến thức ăn nuôi tôm và có những loại thức ăn nào đang được dùng hiện nay?

Ông Nguyễn Văn Năm: Thức ăn dành cho tôm về cơ bản có 3 loại chính: Một là, thức ăn công nghiệp. Tùy theo lứa tuổi của tôm người ta sản xuất thức ăn theo số để phù hợp kích thước tôm trong quá trình nuôi; loại thứ hai là thức ăn tự nhiên gồm các động vật phù du, xác tảo và các loại thức ăn hữu cơ; loại thứ 3 ít hơn là thức ăn nhân tạo, người ta có thể sử dụng các loại cá tạp hoặc tận dụng các loại phế liệu nông nghiệp làm thức ăn phụ cho tôm.


Mô hình thử nghiệm quy trình nuôi tôm sạch và bền vững - không sử dụng kháng sinh, hóa chất diệt khuẩn độc hại tại Thanh Hóa.

Ngoài ra, phần thức ăn bổ sung không thể thiếu được khi nuôi tôm công nghiệp là các vi sinh vật có lợi, các enzim tiêu hóa, vitamin và các khoáng chất, các chất tăng cường miễn dịch.

- Là một nhà khoa học nhiều năm hoạt động trong Hiệp hội nghề cá, theo nghiên cứu của ông, ở một số nước có ngành thủy sản tương tự như chúng ta họ đang sử dụng những loại chế phẩm như thế nào?

Ông Nguyễn Văn Năm: Một số nước trong khu vực có ngành nuôi tôm công nghiệp sớm hơn nước ta. Về công nghệ nuôi cơ bản là giống nhau. Trước đây, các chế phẩm sinh học chưa được tin dùng nhiều, các nước hầu như đều sử dụng các chất kháng sinh, chất diệt khuẩn. Sau một thời gian sử dụng, môi trường bị suy thoái, dịch bệnh xuất hiện trở lại và càng về sau dịch bệnh lại càng khó khắc phục hơn. Tuy nhiên gần đây, các nước trong đó có Việt Nam đang theo xu thế sử dụng các chế phẩm sinh học để khắc phục tình trạng này. Xu thế này đảm bảo được sản phẩm an toàn sinh học cũng như môi trường phát triển bền vững.

Sản xuất thành công chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh

- Thưa ông, được biết nhóm Hợp tác nghiên cứu FIRST - BCC do Công ty cổ phần Hóa sinh Việt Nam là thành viên đứng đầu vừa nghiên cứu, sản xuất thành công loại chế phẩm dùng trong nuôi tôm, thay thế kháng sinh và hóa chất. Ông có thể cho biết rõ hơn về điều này?

Ông Nguyễn Văn Năm: Từ tháng 3.2018, Nhóm hợp tác FIRST – BCC gồm BCC, Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam), Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội), Công ty CP Công nghệ vi sinh và môi trường, Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Tuấn Hiền, được Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua Dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ - FIRST, hỗ trợ thực hiện tiểu dự án “Nâng cấp và hoàn thiện công nghệ sản xuất β-glucan và probiotic - đa enzyme sử dụng trong nuôi tôm công nghiệp thay thế kháng sinh và hoá chất diệt khuẩn độc hại”. Dự án FIRST do Ngân hàng Thế giới tài trợ và Bộ KHCN là cơ quan quản lý. Nhóm đã tận dụng phế thải từ việc sản xuất bia – nguồn nguyên liệu dồi dào tại Việt Nam để nghiên cứu, đưa ra các quy trình và công nghệ sản xuất β-glucan, probiotic - đa enzyme đạt chất lượng tương đương với sản phẩm ngoại nhập với giá cạnh tranh. Sản xuất ra 5,1 tấn β-glucan (40% - 60%) và 10,2 tấn probiotic - đa enzyme có thể sử dụng cho 20.000 – 50.000 tấn thức ăn nuôi tôm. Chúng tôi đã thử nghiệm quy trình “Nuôi tôm sạch và bền vững - không sử dụng kháng sinh, hóa chất diệt khuẩn độc hại” sử dụng các sản phẩm của dự án tại cơ sở nuôi tôm ở Hoằng Hóa – Thanh Hóa với kết quả đạt yêu cầu như trong cam kết với dự án. 


Cán bộ kỹ thuật của Công ty BCC vận hành dây chuyền sản xuất chế phẩm sinh học.

Đồng thời, đã thương mại hóa thành công các sản phẩm của dự án. Một số đơn vị đã và đang sử dụng chế phẩm của BCC như Công ty TNHH Quốc tế VICASA, Đại lý Năm Nghĩa và một số đại lý khác. Đây là kết quả của mô hình hiệu quả từ sự kết hợp giữa các tổ chức KHCN với các doanh nghiệp, để đưa những kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế nhanh hơn, hiệu quả hơn.

- Ông có thể cho biết một số thông tin cụ thể về β-glucan và probiotic?

Ông Nguyễn Văn Năm: β-Glucan gồm các liên kết beta glucozit 1-3, 1-4 hay 1-6. Các hoạt chất này có rất nhiều ở vách tế bào của nấm men, đặc biệt là nấm men bia thải. Ngoài ra, có còn có trong một số hạt ngũ cốc, rong biển. Tuy nhiên, hoạt tính cao nhất và khả năng tăng cường miễn dịch thường nằm trong vách tế bào nấm men mà loại men thải này lại có rất nhiều từ hoạt động sản xuất bia.

Còn probiotic là các vi sinh vật có lợi, khi đưa vào hệ thống tiêu hóa, đường ruột của vật nuôi đặc biệt là tôm sẽ tăng cường khả năng miễn dịch cho tôm, nó tiết ra rất nhiều enzim tiêu hóa để kích hoạt quá trình tiêu hóa nhanh cho con tôm.

- Tại sao khi tôm cá sử dụng β-glucan và probiotic lại có thể thay thế được kháng sinh, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Năm: Riêng hoạt chất β-glucan hiện đã có trên 2.000 bài báo nghiên cứu về nó. Đây là một trong những chất từ thiên nhiên có khả năng tăng cường miễn dịch, kích hoạt hệ miễn dịch tốt nhất cho vật nuôi. Đường ruột của con tôm rất ngắn và thẳng, nên nếu có được enzim tiêu hóa bổ sung vào cùng probiotic sẽ giúp khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn rất nhiều. Ngoài ra, khi vào đường ruột, probiotic có tính cạnh tranh với các vi sinh vật gây bệnh để làm lợi cho con tôm, đồng thời gây hại, ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh. Bên cạnh đó, nó có thể tiết ra nhiều vitamin và các axit amin, các chất hữu cơ có lợi cho tôm. Vì vậy, trong quá trình nuôi tôm việc sử dụng β-glucan và probiotic và đa ezim rất có lợi cho con tôm trong quá trình sinh trưởng, phát triển. Tôm khỏe, không có mầm bệnh xâm nhập vào được sẽ không cần sử dụng kháng sinh.

Ưu tiên sử dụng các giải pháp sinh học

- Vậy với những người nông dân Việt Nam, nếu họ sử dụng chế phẩm này liệu có đẩy giá thành nuôi tôm lên cao quá không, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Năm: Dùng phương pháp hóa học và kháng sinh, hóa chất độc hại tốn kém hơn rất nhiều so với chế phẩm sinh học. Điều đó để lại hậu quả môi trường rất khủng khiếp. Có những vùng sau 5 năm nuôi thành công thì không thể nuôi tiếp tục được nữa và phải năm sau bỏ hoang mới có thể quay lại phục hồi được. Đó là một thiệt hại rất lớn.

- Vậy theo ông, chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ, công nghệ nuôi tôm sạch như thế nào để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hiệu quả và bền vững?

Ông Nguyễn Văn Năm: Có thể nói tổng thể an toàn sinh học trong nuôi tôm cần làm mấy việc như sau:

Ngoài việc chọn tạo giống tôm và áp dụng các tiến bộ KHCN, thứ nhất, gần như tránh hoàn toàn việc sử dụng các hóa chất độc hại để khử trùng trực tiếp trong ao nuôi. Không dùng hóa chất định kỳ cho ao nuôi bởi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng con tôm và suy thoái môi trường nuôi tôm.

Thứ hai, hạn chế tối đa không dùng các chất kháng sinh trong ao nuôi mà phải thường xuyên sử dụng các giải pháp sinh học. Từ việc cải tạo ao, xử lý nước ao cũng cần sử dụng chế phẩm sinh học để làm sạch môi trường. Nếu mà phải sử dụng, chỉ nên quan tâm đến sản phẩm thảo dược.

Ở nước ta nguồn thảo dược rất phong phú, và cả thế giới đang đi theo hướng dùng sản phẩm oganic (sản phẩm hữu cơ không sử dụng chất hóa học) và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Hy vọng Việt Nam sẽ là một trong những cường quốc xuất khẩu tôm trên thế giới trong tương lai không xa.

- Xin trân trọng cảm ơn ông! 

Quỳnh Chi thực hiện