EVN thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn:

Nỗ lực trong cải tạo và đầu tư

09:37 | 31/10/2019
Khi tổng kết 15 năm điện khí hóa nông thôn và vận động ODA cho Việt Nam để thực hiện Chương trình Điện khí hóa nông thôn, nguyên Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam Victoria Kwa Kwa khẳng định, Việt Nam đã thành công rất ấn tượng trong điện khí hóa nông thôn, trở thành mô hình mà WB muốn nhân rộng ở nhiều nước. Chính sự “cởi trói” về mặt chính sách cùng những nỗ lực không ngừng của ngành Điện đã góp phần cải tiến lưới điện hạ áp nông thôn, cải thiện khả năng cung cấp điện đến người dân mọi miền đất nước.

Khởi đầu từ Nghị quyết của Quốc hội

Nhận thấy lưới điện hạ áp nông thôn là một trong những yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế địa phương vì những yếu kém từ cơ sở hạ tầng, khả năng quản lý và vận hành tại địa phương, Nghị quyết kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa X (tháng 11.1997) đã xác định, giao cho ngành Điện xây dựng quy chế trực tiếp quản lý lưới điện nông thôn, tính lại giá bán điện hợp lý, trước mắt công bố giá trần áp dụng đối với nông thôn; cùng các Bộ hữu quan lập phương án trình Chính phủ quyết định việc đầu tư xây dựng các công trình điện nông thôn theo tinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đây được xem là dấu mốc quan trọng, “cởi trói” về mặt cơ chế và chính sách, tạo tiền đề cho việc phát triển lười điện hạ áp nông thôn của Việt Nam.


Quá trình phát triển lưới điện hạ áp nông thôn

Không dừng lại tại đó, Nghị quyết kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa X đã cụ thể hóa một trong những chỉ tiêu quan trọng như “phấn đấu nâng số xã có điện lên 71%”, “ban hành quy chế ngành điện lực trực tiếp quản lý lưới điện nông thôn”. Song hành với đó là những chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ trong việc hiện thực hóa các chỉ tiêu về lưới điện hạ áp nông thôn thông qua hàng loạt các Quyết định, cơ chế chính sách.

Đến nay, sau 22 năm thực hiện và triển khai Nghị quyết kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa X, việc cung cấp điện cho khu vực nông thôn luôn được Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN quan tâm trú trọng, một mặt tập trung nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện cấp điện cho các huyện, xã, hộ dân chưa có điện nâng cao tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện, một mặt tăng cường công tác quản lý cung cấp điện sau khi lưới điện được xây dựng thông qua việc tiếp nhận quản lý lưới điện hạ áp nông thôn để các hộ dân được sử dụng điện có chất lượng và mua điện theo giá do Chính phủ quy định.

Nếu như vào thời điểm năm 1997, điện lưới quốc gia mới được cung cấp đến 426/470 huyện, đạt tỷ lệ 90,6% với 5.698/9.022 xã, đạt tỷ lệ 63,2% và 6.031/11.881 nghìn hộ dân nông thôn sử dụng điện lưới quốc gia, vẫn còn hơn 30 triệu người chưa được sử dụng điện, thì đến năm 2010 cả nước đã có 100% số huyện có điện, năm 2018 có 100% xã có điện. Đến nay, số hộ dân có điện đạt 99,47%, trong đó 99,18% hộ dân nông thôn có điện. Mức độ phủ điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực như Philippine 93%, Indonexia 98,1%, Ấn Độ 92,6%, Lào 93,6%.


Số vốn đầu tư Lưới điện nông thôn

Tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn, tăng tỷ lệ hộ dân được cung cấp điện lên tới 99,18% đã góp phần thực hiện thành công Chương trình Nông thôn mới, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế tại mọi vùng miền tổ quốc, riêng lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp đã tiếp đà tăng trưởng tốt trên 2% liên tục trong 5 năm qua. Những nỗ lực của EVN cũng đã được Đảng và Chính phủ ghi nhận với việc được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất vì những đóng góp xuất sắc trong việc thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2011 - 2020.

Đầu tư mọi nguồn lực

Để có được kết quả khả quan và đáng khích lệ về lưới điện hạ áp nông thôn trong thời gian qua, EVN đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ để cải tạo và đầu tư xây dựng mới lưới điện nông thôn. Theo đại diện một số Tổng công ty trực thuộc EVN, khi mới tiếp nhận, phần lớn lưới điện nông thôn đều trong tình trạng cũ nát, không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành, mất an toàn, tổn thất điện năng lên tới 30%. Khó khăn lớn nhất trong công tác quản lý lưới điện nông thôn là vẫn còn nhiều tuyến dây truyền tải chưa được bọc nhựa, hạ ngầm; một số nơi thiếu trạm biến áp trung gian và biến áp hạ thế.

Đặc biệt, phần lớn khách hàng khu vực nông thôn được lắp đặt công tơ đo điện cơ khí, có độ chính xác chưa cao, dễ xảy ra sai sót trong quá trình chốt số điện tiêu thụ hằng tháng. Cùng với đó, nhu cầu về nguồn lực để tập trung đầu tư hoàn thiện lưới điện nông thôn, thay thế công tơ đo điện cơ khí bằng công tơ điện tử, ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, vận hành của các đơn vị điện lực cũng rất lớn.


Tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn đã giúp tăng tỷ lệ hộ dân được cung cấp điện lên tới 99,18%.

Trước những khó khăn, vướng mắc đó, để tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn, EVN đã đầu tư hơn 120.000 tỷ đồng, trong đó, riêng nguồn vốn vay ODA của các Tổ chức quốc tế hơn 78.300 tỷ đồng (tương đương 3,7 tỷ USD). Bên cạnh đó, EVN cũng thực hiện tiếp nhận lưới điện và cung cấp điện trực tiếp tại 11/12 huyện đảo như Cát Hải, Bạch Long Vỹ, Vân Đồn, Cô Tô, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Kiên Hải. Sau khi tiếp nhận, EVN đã đầu tư tăng cường hệ thống điện, cấp điện bằng lưới điện quốc gia cho các huyện đảo với tổng vốn đầu tư hơn 7.500 tỷ đồng.

EVN cũng phối hợp với các địa phương tập trung tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn thôn, giải quyết những bất cập khi các Tổ chức quản lý điện địa phương không đủ năng lực quản lý, hộ dân nông thôn phải đóng góp nhiều chi phí và mua điện với giá cao. Từ xuất phát điểm EVN chỉ quản lý bán điện trực tiếp tại 2.126/8.841 xã có điện, chiếm tỷ lệ 24%, EVN đã thực hiện tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn của hơn 6.000 xã, cung cấp điện trực tiếp tới các hộ dân nông thôn. Sau khi EVN tiếp nhận cải tạo đầu tư tối thiểu bình quân mỗi xã khoảng 1,5 tỷ đáp ứng nhanh nhu cầu sử dụng điện ngay sau khi tiếp nhận và xây dựng kế hoạch đầu tư cho mỗi xã khoảng 5 - 10 tỷ đồng hoàn chỉnh hệ thống điện.

Với tỷ lệ 100% số xã, phường, thị trấn có điện, việc chuyển cho EVN tiếp nhận và vận hành lưới điện hạ áp nông thôn đã cho thấy sự đúng đắn, kịp thời trong việc thay đổi cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn. 

Thảo Mộc