Dịch vụ thông tin, nghiên cứu hỗ trợ nghị sĩ

Các mô hình cơ quan nghiên cứu

08:49 | 26/05/2019
Các cơ quan nghiên cứu của nghị viện trên thế giới được tổ chức theo ba mô hình: thứ nhất, đó là đơn vị thuộc Văn phòng nghị viện, chịu sự điều hành và quản lý của Tổng thư ký Nghị viện; thứ hai, đó là một viện nghiên cứu độc lập; thứ ba, dịch vụ nghiên cứu được giao cho các bộ phận khác nhau trong văn phòng nghị viện.

Hầu hết nghị viện các nước áp dụng mô hình thứ nhất với những điểm khác nhau nhất định. Ở một số nghị viện, cơ quan nghiên cứu được tổ chức dưới hình thức một đơn vị cấp vụ như ở Philippines, Indonesia. Trong khi đó, ở một số nghị viện khác, bộ phận cơ quan nghiên cứu rất được coi trọng và được tổ chức như là một Tổng vụ trong bộ máy giúp việc của nghị viện như ở Hạ Nghị viện Nhật Bản. Văn phòng Nghiên cứu của Văn phòng Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc cũng có quy mô, vị thế tương tự.

Mặc dù không có tính phổ biến nhưng mô hình thành lập Viện nghiên cứu hỗ trợ nghị viện đang được một số nước xây dựng, nhất là ở các nước đang trên con đường xây dựng thể chế nghị viện dân chủ như Cộng hòa Séc, Argentina, Hàn Quốc, Thái Lan, Bangladesh. Mô hình này có ưu điểm là tính độc lập của cơ quan nghiên cứu, hỗ trợ cho nghị viện cao hơn và do vậy, nguồn lực cho các hoạt động này cũng được tập trung hơn.

Việc thành lập các Viện nghiên cứu theo mô hình này cũng có những điểm đặc biệt. Cách thức phổ biến là thành lập theo một đạo luật để tạo lập một vị trí pháp lý độc lập nhất định cho Viện nghiên cứu như ở Thái Lan, Hàn Quốc. Trong một số trường hợp khác thì Viện nghiên cứu lập pháp được thành lập theo một nghị quyết của Quốc hội như ở Argentina, Cộng hòa Séc, nhưng vẫn trực thuộc bộ máy giúp việc của nghị viện.

Cuối cùng, ở nghị viện một số nước không duy trì những cơ quan riêng biệt thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ hoạt động lập pháp mà giao cho một số các bộ phận khác nhau trong bộ máy giúp việc của nghị viện. Điển hình nhất cho mô hình này có lẽ là Quốc hội Pháp. Ở đây không có bộ phận nghiên cứu riêng mà nhiệm vụ nghiên cứu được giao cho một số cơ quan như Văn phòng hỗ trợ Ủy ban thường trực, Văn phòng thư ký phái đoàn tại nghị viện Liên minh châu Âu, Vụ biên bản của nghị viện... Cách thức này cũng được áp dụng tương tự ở Nghị viện Bỉ và Thượng viện CHLB Đức.

Trong các dịch vụ thông tin phục vụ nghị viện, thư viện luôn luôn đóng vai trò cốt lõi, bởi vì đây là cơ sở chủ yếu cung cấp thông tin qua các nguồn phong phú và đa dạng: Sách, báo, tạp chí, các ấn phẩm chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu... Nghiên cứu về thư viện nghị viện của 163 nước cho thấy, quy mô và đóng góp của thư viện nghị viện các nước rất khác nhau. Thông thường, ở những thư viện với quy mô và số lượng nhân viên càng lớn, như ở Mỹ hay Nhật, nhu cầu của nghị sĩ đối với dịch vụ ở đó càng lớn, và ngược lại, ở những nghị viện có thư viện quy mô nhỏ, nhu cầu đối với dịch vụ của bộ phận này lại không lớn.

Bên cạnh đó, do tính chất công việc của Nghị viện thường xuyên phải xem xét, quyết định các nội dung liên quan đến ngân sách, ở nhiều nước như Đức, Anh, Mỹ, Nghị viện thành lập văn phòng nghiên cứu về ngân sách. Văn phòng này cung cấp các nghiên cứu độc lập về các vấn đề liên quan đến ngân sách. Một số nước đặt văn phòng này trong một đơn vị nghiên cứu về Nghị viện lớn hơn (Ba Lan). Một số quốc gia khác như Uganda, Philippines, Gruzia lại thành lập văn phòng chuyên nghiên cứu và phân tích các chính sách về ngân sách không nằm trong Nghị viện.

Quốc Đạt