Sổ tay

Lúng túng mô hình tổ chức pháp chế

07:24 | 12/10/2018
Nếu như Nghị định 55/2011/NĐ-CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế thì đến Nghị định 24/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, thành phố trực thuộc Trung ương lại không có quy định bắt buộc phải có tổ chức pháp chế trong các cơ quan chuyên môn trực thuộc. Sự mâu thuẫn này khiến cho hoạt động của tổ chức pháp chế gặp nhiều khó khăn.

Hiện, tổng số người làm công tác pháp chế trên toàn quốc là 8.556 người (tăng 356,5% so với thời điểm trước khi ban hành Nghị định 55/2011/NĐ-CP). Trong đó, có 2.754 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 5.802 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm. Ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, có 4.377 người làm công tác pháp chế, trong đó có 1.455 người được bố trí làm chuyên trách, 2.922 người kiêm nhiệm. Ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, có 2.138 người làm công tác pháp chế, trong đó có 593 chuyên trách, còn lại là kiêm nhiệm. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện có 1.840 người làm công tác pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương, doanh nghiệp nhà nước chưa có trình độ cử nhân Luật, trong đó ở địa phương là 1.136 người.

Vướng mắc lớn nhất của tổ chức pháp chế ở địa phương chính là việc thành lập và củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế. Thực tế đang diễn ra ở hầu khắp các địa phương là một loạt các phòng pháp chế đã được thành lập theo quy định của Nghị định 55/2011/NĐ-CP trước đây bị giải thể. Mặc dù, theo đề án vị trí việc làm của các sở, cán bộ pháp chế đều được xác định là cán bộ chuyên trách, song thực tế, đa phần đều phải hoạt động kiêm nhiệm, thậm chí việc thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến công tác pháp chế chỉ là nhiệm vụ thứ yếu.

Từ năm 2014, theo Nghị định 55/2011/NĐ-CP, UBND các tỉnh đã ban hành văn bản thực hiện việc quy định các sở chuyên môn phải có bộ phận pháp chế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, ở nhiều địa phương không còn sở nào có phòng pháp chế trong cơ cấu tổ chức theo Nghị định 55/2011. Đơn cử, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thực hiện Nghị định 55/2011, tỉnh đã kiện toàn tổ chức pháp chế tại 15 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Tuy nhiên, các sở không bố trí, sắp xếp được nhân sự, nên 6/8 sở đã có quyết định thành lập phòng pháp chế vẫn không thành lập được. Hay, ở An Giang hiện chỉ còn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Phòng Pháp chế (giảm 2 phòng so với năm 2017). Các sở còn lại theo quy định tại Nghị định 55/2011 thì phải thành lập phòng pháp chế nhưng đã “ghép” công tác pháp chế thuộc văn phòng sở hoặc thanh tra sở.

Có thể thấy, mục tiêu trong hai văn bản này khác nhau. Nếu như Nghị định 55/2011 hướng tới mục tiêu hoàn thiện tổ chức, bộ máy pháp chế ở địa phương, tạo điều kiện cho đội ngũ này thực hiện đúng vai “gác cửa” thì Nghị định 24/2014 lại được xây dựng trong bối cảnh tinh giản bộ máy hành chính và đã lấy bộ phận pháp chế làm “điểm”. Đặc biệt, Nghị định này chưa giải quyết thấu đáo được vấn đề là có quy định tổ chức pháp chế hay không quy định vì đã có văn bản khác quy định. Chính vì mâu thuẫn nêu trên nên sau khi Nghị định 24/2014 có hiệu lực đã gây lúng túng, không biết áp dụng theo quy định nào.

Liên quan đến vấn đề này, gần đây thực hiện theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có văn bản gửi các tỉnh, thành phố đề nghị giữ nguyên bộ phận này và Nghị định 55/2011 cũng đang trong quá trình sửa đổi.

Trong bối cảnh tinh giản bộ máy hành chính, nhiều ý kiến cho rằng, mô hình phòng pháp chế được thành lập có thể linh động kết hợp với một số lĩnh vực chuyên môn khác của các sở. Bởi trên thực tế, nhiều địa phương vì không còn tổ chức phòng pháp chế nên các cán bộ pháp chế kiêm nhiệm vẫn được giao nhiệm vụ chủ trì một số lĩnh vực công tác như rà soát, hệ thống hóa văn bản; theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Phạm Hải