Phiên họp thứ Sáu của UBTVQH

19:15 | 22/03/2012
* Thông qua Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật
* Dự án Luật Công đoàn (sửa đổi): Cần tạo điều kiện để người lao động nước ngoài được gia nhập công đoàn Việt Nam * Dự án Luật Giáo dục đại học: Chưa nên trao quyền tự chủ một cách đại trà cho các cơ sở giáo dục đại học * Cho ý kiến về việc chuyển Tạp chí Kiểm toán thành Báo Kiểm toán

Sáng 22.3, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu, UBTVQH đã thông qua Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc hợåp nhất văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành; quy định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan trong việc hợp nhất văn bản, kỹ thuật hợp nhất văn bản. Pháp lệnh nêu rõ: nguyên tắc hợp nhất văn bản phải góp phần bảo đảm cho hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; chỉ hợp nhất văn bản do cùng một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; việc hợp nhất văn bản không được làm thay đổi nội dung và hiệu lực của văn bản được hợp nhất, đồng thời phải tuân thủ trình tự, kỹ thuật hợp nhất văn bản.

Theo quy định của Pháp lệnh, Chủ nhiệm VPQH tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản của QH, UBTVQH, văn bản liên tịch giữa UBTVQH với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội. Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản được sửa đổi, bổ sung của Chủ tịch Nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản của Chủ tịch Nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, văn bản liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Tổng Kiểm toán Nhà nước tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành.

Để bảo đảm độ tin cậy, giá trị sử dụng của văn bản hợp nhất cũng như ý nghĩa và mục đích thiết thực của việc hợp nhất văn bản, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng và thực hiện thống nhất pháp luật - Pháp lệnh cũng đã khẳng định giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất. Theo đó, văn bản hợp nhất được sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật; trong trường hợp do sai sót về kỹ thuật dẫn đến nội dung văn bản hợp nhất khác với nội dung của văn bản được hợp nhất thì áp dụng các quy định của văn bản được hợp nhất. 

Tiếp đó, UBTVQH đã cho ý kiến về một số vấn đề lớn, còn  ý kiến khác nhau của dự án Luật Công đoàn (sửa đổi).

Theo Báo cáo do Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý trình bày, sau khi trình QH cho ý kiến tại kỳ họp thứ Hai, dự án Luật còn 4 vấn đề lớn chưa thống nhất ý kiến gồm: địa vị pháp lý của công đoàn; quyền gia nhập và hoạt động công đoàn của lao động là người nước ngoài; hệ thống tổ chức và tên gọi của các cấp công đoàn và tài chính công đoàn.

Về địa vị pháp lý của công đoàn, đa số thành viên UBTVQH nhất trí cho rằng Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị xã hội của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội... Về việc gia nhập hoạt động công đoàn của lao động là người nước ngoài, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng, nên quy định quyền gia nhập Công đoàn Việt Nam của người lao động nước ngoài. Bởi lẽ, giai cấp công nhân trên toàn thế giới là người lao động cùng một chiến hào. Người lao động nước ngoài nếu tôn trọng các điều lệ quy định của công đoàn, tuân thủ pháp luật của Việt Nam, không gây ra những vấn đề phức tạp về chính trị và tình nguyện gia nhập công đoàn Việt Nam thì nên tạo điều kiện cho họ. Đây cũng là điều kiện để chúng ta góp phần củng cố thêm sức mạnh của công đoàn. Đồng tình với quan điểm này, Phó chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân nêu rõ, người lao động nước ngoài khi tham gia công đoàn phải tôn trọng điều lệ công đoàn, pháp luật của nước ta. Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, người lao động nước ngoài được giải quyết như lao động Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật. Theo Phó chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn, dự thảo Luật cần quy định rõ người lao động là người nước ngoài làm việc tại các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp có tổ chức công đoàn cơ sở có quyền gia nhập công đoàn có giấy phép... tức là người lao động nước ngoài chỉ có quyền gia nhập, trở thành công đoàn viên chứ không có quyền thành lập Công đoàn. Theo Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai, nếu quy định lao động nước ngoài được quyền gia nhập công đoàn, thì cần tính đến sự tương thích giữa các luật. Cụ thể ở  Điều 171 của Bộ luật Lao động đang quy định: thời hạn giấy phép lao động của người nước ngoài tối đa là 1 năm. Với quy định này, sẽ không có lao động nước ngoài nào gia nhập được tổ chức công đoàn vì thời gian được cấp giấy phép xong, người lao động nước ngoài đi làm việc từ trình diện, tìm hiểu công đoàn đến gia nhập đã mất đến mấy tháng. Trong khi đó, dự án Luật đã quy định điều kiện để người lao động gia nhập công đoàn nếu có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thời hạn lao động còn hiệu lực từ một năm trở lên kể từ ngày xin gia nhập công đoàn.

Buổi chiều, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Tòng Thị Phóng, UBTVQH đã cho ý kiến về một số vấn đề lớn, còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Giáo dục đại học.

Theo Báo cáo do Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Đào Trọng Thi trình bày, hệ thống cơ sở giáo dục đại học tại nước ta hiện nay chưa có sự ổn định, thống nhất. Do đó, để có thể quản lý được thì cần liệt kê đầy đủ các loại hình cơ sở giáo dục hiện có tại dự thảo Luật. Việc phân tầng cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học. Chính phủ sẽ quy định chi tiết tại các văn bản dưới luật về tiêu chí phân tầng cơ sở giáo dục; ban hành chính sách đầu tư, giao nhiệm vụ và quyền tự chủ tương xứng với vị trí, vai trò và năng lực đào tạo của cơ sở. Để chủ động xây dựng một số cơ sở giáo dục đại học thuộc tầng cao nhất, dự thảo Luật quy định Nhà nước đầu tư ngân sách có trọng điểm để hình thành một số cơ sở có chất lượng cao, theo định hướng nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, các ngành công nghệ cao và kinh tế - xã hội then chốt đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý đề nghị, cần có một số quy định liên quan đến tiêu chí, điều kiện để phân loại các trường đại học, từ đó, giúp hệ thống đại học vận động ổn định, cũng như giúp các phụ huynh, học sinh yên tâm.

Về vấn đề đổi tên các đại học, đại học quốc gia thành viện đại học và không nên có sự phân biệt giữa đại học và đại học quốc gia, Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ cho rằng, đại học quốc gia có chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trường đại học quốc gia cũng giữ vai trò là đầu tàu phát triển của hệ thống giáo dục đại học nước ta. Các trường đại học khác là cơ sở giáo dục trọng điểm của từng vùng miền, với địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ tương ứng. Do đó, cần phân biệt đại học và đại học quốc gia để có chính sách đầu tư, cơ chế quản lý phù hợp. Nhiều Ủy viên UBTVQH đồng tình với quan điểm này. Phó chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, với vai trò, nhiệm vụ quan trọng của mình, mô hình đại học quốc gia cần có một số quy định rõ hơn về quyền hạn, trách nhiệm để mô hình này có thể phát triển đúng với tầm của mình.

Về quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ cho rằng, đây là thuộc tính cơ bản của cơ sở giáo dục đại học, là yêu cầu khách quan, tất yếu và phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện nay. Đây cũng là tư tưởng xuyên suốët dự án luật, được quy định bằng các quy phạm pháp luật cụ thể trong từng điều, khoản. Tán thành trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các cơ sở để có thể phát huy lợi thế, cũng như tinh thần sáng tạo trong nghiên cứu, đào tạo. Tán thành quan điểm này, song Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho rằng, việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học phải theo lộ trình vì qua giám sát cho thấy chất lượng đào tạo chưa đồng đều, có một số cơ sở chưa bảo đảm yêu cầu cơ bản. Vì thế, nếu trao ngay quyền tự chủ có thể sẽ là đi sớm vì điều kiện, năng lực đào tạo của một số trường chưa cho phép. Phó chủ tịch QH nhấn mạnh, chỉ nên trao quyền tự chủ cho trường đáp ứng các yêu cầu về đào tạo, chưa nên trao quyền tự chủ một cách đại trà.

Tiếp đó, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân, UBTVQH đã cho ý kiến về việåc chuyển Tạp chí Kiểm toán thành Báo Kiểm toán trực thuộc Kiểm toán Nhà nước. Theo Tờ trình, Báo Kiểm toán sẽ là tuần báo, cung cấp thông tin cho bạn đọc quan tâm đến việc quản lý nguồn lực của đất nước; việc sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước và tiền thuế do người dân đóng góp. Báo sẽ là cầu nối thông tin giữa Kiểm toán Nhà nước với bạn đọc, người dân; là công cụ hữu hiệu của Kiểm toán Nhà nước trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường cho thực hiện quy định công khai báo cáo kiểm toán năm, báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán.

P. Thủy – H. Ngọc