Vượt lên trên sự chia cắt

18/06/2007
Hàn Quốc là xứ sở hàng năm tổ chức nhiều liên hoan văn học nghệ thuật. Các liên hoan không chỉ là nơi gặp gỡ, bàn bạc những vấn đề toàn cầu và thời đại, những vấn đề đặt ra cho văn học nghệ thuật trên hành tinh chúng ta; đó còn là nơi từ sự chia sẻ với một đất nước bị chia cắt, các văn nghệ sĩ hướng tới một thế giới hòa bình và ổn định. Nhà văn Hồ Anh Thái mới đây được mời tham dự Liên hoan Văn học Quốc tế ở Hàn Quốc, mang tên Lịch sử hiện đại và văn học ở châu Á - Phẩm giá con người. NĐBND trích giới thiệu tham luận của Hồ Anh Thái tại cuộc hội thảo với chủ đề Quan hệ giữa lịch sử đất nước với văn học và tư tưởng của cá nhân nhà văn.

      Những cuốn sách không bị thiêu cháy
      Nửa cuối thế kỷ XX, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền suốt 21 năm, từ 1954 đến 1975. Miền Nam do chính quyền thân Mỹ nắm. Miền Bắc theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Gia đình tôi sống ở miền Bắc. Mẹ tôi có bốn người em trai ở miền Nam. Suốt 21 năm trời, nỗi lo thường xuyên của mẹ tôi là bốn cậu em trai có thể đang cộng tác với chính quyền trong ấy. Dân chúng gọi là theo giặc ngoại xâm.
Sau khi miền Nam giải phóng, mẹ tôi tìm lại được bốn cậu em trai. May mắn, chỉ một người bị cưỡng ép đi lính cho chính quyền thân Mỹ, nhưng đi một thời gian ngắn rồi về. Dưới chế độ mới, ông phải đi học tập chủ trương chính sách mất mấy ngày. Sau đó ông cậu tôi tình nguyện đưa vợ con lên vùng kinh tế mới. Ở nơi ấy những thị dân như ông không biết làm ăn nên không trụ lại được. Một thời gian sau, họ lại hồi hương về Sài Gòn. Ông trở thành thợ cắt tóc.
      Một ông cậu khác thì may mắn hơn. Là một họa sĩ tài năng của Nhóm Họa sĩ Trẻ Sài Gòn từ những năm 1960, sau giải phóng ông vẫn vẽ. Cũng có lúc bất đồng quan điểm về nghệ thuật với người này người khác, nhưng rốt cục tranh của ông vẫn được công chúng và thị trường tiếp nhận với giá tranh cao bậc nhất trong các họa sĩ Việt Nam hiện đại.
      Những ngày đầu sau khi giải phóng, một không khí e ngại, ngờ vực, thậm chí là sợ hãi, bao trùm một bộ phận trí thức Sài Gòn cũ. Người ta không tin sẽ xảy ra tắm máu khi cộng sản vào Sài Gòn như chế độ cũ tuyên truyền, nhưng vẫn phấp phỏng lo ngại. Lại còn tưởng rằng tất cả những sản phẩm tri thức của chế độ cũ sẽ không còn giá trị. Thế thì phải nhanh tay tiêu hủy trước để tránh bị quy kết. Một ông cậu của tôi đã mang toàn bộ sách văn học và triết học xuất bản dưới chế độ cũ ra đốt. Một đống sách lớn trong góc vườn nhà ông ở Gò Vấp. Kịp lúc anh trai tôi tìm đến. Anh là chiến sĩ giải phóng có mặt ngay trong những ngày đầu tiên giải phóng Sài Gòn. Anh kịp thời đến cứu những cuốn sách sắp bị ném vào lửa. Lũ người quỷ ám và Tội ác và trừng phạt của Dostoievsky, Cuốn theo chiều gió của Margaret Michell... rồi những Krishnamurti, Nietzsche... Anh mang những cuốn sách ấy ra miền Bắc. Chúng trở thành tài sản của gia đình cho đến bây giờ.
      Người ta bảo nhà văn là thư ký của thời đại. Tôi muốn thêm: nhà văn là người đồng hành với lịch sử đất nước mình, là người chia sẻ cảm thông với nhân dân mình. Và nữa: nhà văn là người khám phá chính bản thân mình. Người Ấn Độ cho rằng bản thân mình mới là một vũ trụ bí ẩn bậc nhất cần được khám phá. Vũ trụ ấy có biết bao điều hiện thực rõ ràng, nhưng cũng đầy góc khuất, những ảo ảnh và những điều kỳ lạ, phi thường. Nhà văn là người, những ảo ảnh và những điều kỳ lạ, phi thường. Nhà văn là người gọi dậy tất cả những điều tưởng như chìm khuất ấy và đưa chúng vào trang sách.
      Tôi đã, đang và sẽ viết về những điều ấy. Nỗi lo 21 năm trời của mẹ tôi rằng những người em trai có thể cầm súng bắn về phía người thân của mình. Khát vọng bền bỉ của chúng tôi về một đất nước thống nhất. Số phận thăng trầm rất khác nhau của những ông cậu tôi khi đến với chế độ mới. Và những cuốn sách được cứu ra từ đống lửa. Đấy, cầu mong sao cho sách của tất cả chúng ta đều sẽ được cứu ra khỏi những đống lửa hận thù và vô minh. Cầu mong sao sách của chúng ta sau khi được cứu khỏi ngọn lửa sẽ còn là tài sản cho cả một thời gian dài sau đó. Cầu mong sao cho những cuốn sách dù có bị thiêu cháy thì mãi mãi vẫn là những giá trị đối với con người.


      Ảnh hưởng đến từ những nền văn học khác
      Trong cuộc đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm, văn học Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng từ phía đối phương lẫn những đồng minh của mình. Một nền văn học được thừa hưởng những giá trị nhân văn từ văn học Trung Quốc, Pháp, Mỹ... trong khi vẫn đấu tranh chống những kẻ xâm lược đến từ nơi ấy. Và cả văn học Nga - Xô Viết cùng văn học Đông Âu là đồng minh trong cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX. Lên đường đánh Pháp, người lính đã biết đến hầu hết tác phẩm kinh điển Pháp dịch ra tiếng Việt, những là Voltaire, Flaubert, Victor Hugo, Balzac... cho đến Antoine de Saint-Exuperi, Albert Camus, Jean Paul Sartre... Thời chống Mỹ, những người lính, những cô thanh niên xung phong Việt Nam mang theo trong ba lô của mình những cuốn sách ưa thích của Jack London, Hemingway... Phần lớn tác phẩm kinh điển của Pháp và Mỹ đều được dịch in ngay trong thời chiến tranh cứu nước. Một phần nhờ vậy, người dân Việt Nam vẫn phân biệt được đâu là kẻ đến xâm lược và đâu là những người bạn, đâu là những giá trị mà họ có thể thu nhận được từ đất nước xa xôi.
      Thời chiến tranh, ngay từ khi còn bé, tôi đã được phép khám phá tủ sách của cha tôi, một nhà báo viết tiếng Pháp, đồng thời có vốn kiến thức phong phú về văn hóa và ngôn ngữ Trung Hoa. Bắt đầu từ năm lên tám cho đến khi thành niên mười tám tuổi, tôi đã đọc hết tủ sách gia đình. Hầu như toàn bộ tiểu thuyết cổ điển châu Âu và Mỹ có trong ấy. Tôi nhớ lên tám tuổi tôi đã bắt đầu với những cuốn sách dày như David Coperfield của Charles Dickens, bắt đầu mê mải với những mưu tính trong Hội chợ phù hoa của Thackerey, theo dõi cuộc thi gan giữa người và sói trong Tình yêu cuộc sống của Jack London, rồi Ông già và biển cả của Hemingway, Phía Tây không có gì lạ của E. M. Remarque... Rồi văn học Nga và Xô Viết như Lev Tolstoi, Ivan Bunin, Kuprin, Alexei Tolstoi, K. Paustovsky. Thời ấy, các bậc phụ huynh thường cấm trẻ con đọc tiểu thuyết. Nhưng cha mẹ tôi thì không cấm. Tôi được tự do, tức là được đọc hết toàn bộ tủ sách văn học thế giới của gia đình. 
      Cho đến một ngày, tuổi mười tám, tôi cầm bút viết những truyện đầu tiên. Những cuốn sách ta đọc, đặc biệt là sách hay, thường có khả năng kích thích sáng tạo. Người đọc nó thường có nhu cầu viết ra một cuốn sách khác, như thể kẻ hô thì phải có người ứng. Sự đáp đền tiếp nối như thế tạo ra những thế hệ nhà văn liên tục trong lịch sử nhân loại.
      Sau khi thống nhất hai miền, độc giả phía Bắc được bổ sung bằng nhiều tác phẩm văn học Âu Mỹ mà thời chiến miền Bắc chưa thể dịch và chưa thể lưu hành. Độc giả miền Nam được tiếp xúc với dòng văn học Nga - Xô Viết mà họ cho là đầy tính lương thiện và trong trẻo đến mức cảm động. Đời sống văn học dần dần được cân bằng trở lại. Một nền văn học không bị chia cắt cũng được phục hồi và cân bằng trở lại. Văn học, một khi vượt lên trên đường ranh giới chia cắt về địa lý, sự phân biệt của hệ tư tưởng, vượt lên những thành kiến và hận thù, tiếp nhận được một cách đầy đủ kiến thức nhân loại và bổ sung qua lại cho nhau... thì khi ấy văn học mới có một đời sống lành mạnh và tự nhiên thực sự. Chỉ khi ấy văn học mới có thể nói đến sự phát triển rực rỡ và mang lại những giá trị lâu bền cho con người.

Hồ Anh Thái