Tháng 7.1992, tôi trúng cử ĐBQH Khóa IX, nhiệm kỳ 1992- 1997. Tháng 10.1992, sau khi Chính phủ mới được thành lập, đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, tôi nhận được quyết định của Thủ tướng thôi giữ chức Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước để giữ chức Trưởng Ban Việt kiều Trung ương trực thuộc Chính phủ.

Đất nước lúc đó đang còn bị bao vây cấm vận. Sự thay đổi thể chế chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu đảo lộn trao đổi thương mại của Việt Nam, nhiều bài toán kinh tế phải có hướng giải quyết khác chỉ trong một thời gian ngắn. Số người ra đi bất hợp pháp có giảm, thay vào đó là những đợt xuất cảnh theo chương trình ra đi có trật tự và theo diện đoàn tụ gia đình. Cộng đồng người Việt Nam sống ở nước ngoài trở nên đa dạng hơn, khác với thời kỳ trước 1975. Trong nước, đường lối đổi mới của Đảng bắt đầu vực dậy sinh lực và tiềm năng của đất nước.
Nhận nhiệm vụ trong bối cảnh đó, tôi ý thức trách nhiệm nặng nề mà Đảng và Nhà nước giao cho và nhận thức công tác kiều bào phải thể hiện đường lối đổi mới chung. Một tháng sau, sau khi bàn bạc trong tập thể Ban Việt kiều trung ương, tôi đến báo cáo với Thủ tướng dự kiến triển khai nhiệm vụ được giao.
Thủ tướng lắng nghe, hỏi thêm và nhấn mạnh phải sớm đến với kiều bào, trình bày thật rộng rãi tình hình thực tế đất nước và đường lối đổi mới để kiều bào thấy cái thế của đất nước. Mặt khác lắng nghe ý kiến, kể cả những ý kiến khó nghe nhất, và nguyện vọng mà kiều bào đề đạt để xây dựng chính sách. Điểm xuất phát là phải xem kiều bào, ra đi vì bất cứ lý do gì, vào thời điểm nào, đều là con dân của Tổ quốc Việt Nam; Phải tin rằng mọi người Việt Nam đều có lòng yêu nước, những thành tựu của đường lối đổi mới sẽ thổi bùng lên lòng yêu nước đó, gắn kết bà con với quê hương. Thủ tướng còn căn dặn, đất nước còn nghèo, chậm phát triển, phải quý trọng chất xám, nhất là của những người có thực tài muốn góp phần xây dựng đất nước, trong khoa học công nghệ cũng như trong văn hóa nghệ thuật. Thủ tướng nhắc phải chung thủy với kiều bào ở Thái Lan, Lào và Campuchia, những cộng đồng đã hy sinh không kể xiết trong suốt hai cuộc kháng chiến.
Từ những ý kiến chỉ đạo trên, Ban Việt kiều trung ương 1, phối hợp với Bộ Ngoại giao và Văn phòng Chính phủ, tổ chức Hội nghị Việt kiều Xuân Quý Dậu 1993 trong hai ngày 8 và 9.2.1993. Thủ tướng và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tham dự hội nghị và đã trực tiếp nghe ý kiến của kiều bào 2.
Sự quan tâm của Thủ tướng đến ý kiến của kiều bào tại hội nghị thể hiện qua việc chưa đầy ba tuần sau Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng về các việc cần triển khai sau hội nghị. Xin trích:
+ Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Ban Việt kiều TW nghiên cứu việc Việt kiều mong muốn được mang hai quốc tịch. Những điều khoản sửa đổi Luật Quốc tịch, nếu chuẩn bị kịp, thì trình Quốc hội, Khóa IX, Kỳ họp thứ 3, tháng 6.1993.
+ Văn phòng Chính phủ xem xét dự thảo Quyết định của Chính phủ do Ủy ban nhà nước về hợp tác và đầu tư trình “Về những biện pháp khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước”, trình Chính phủ ban hành trong thời gian gần nhất.
+ Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ và Ban Việt kiều TW sớm có văn bản hướng dẫn thực hiện Thông tư liên bộ 04/LB của ba cơ quan về nhập xuất cảnh, cư trú và đi lại của kiều bào. Cần nhanh chóng hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo thực hiện một cách nghiêm túc Thông tư này, đúng ngày có hiệu lực.
+ Đồng ý về nguyên tắc việc thành lập ngân hàng Việt kiều ở Việt Nam. Ban Việt kiều TW và Ngân hàng nhà nước tham khảo ý kiến đề xuất của Việt kiều tại hội nghị, xây dựng phương án chi tiết trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trong Quý II năm 1993.
+ Đồng ý về nguyên tắc việc thành lập Trung tâm đào tạo, chuyển giao công nghệ Việt kiều cho người đã trưởng thành. Giao cho Ban Việt kiều TW và các ngành có liên quan làm việc với các Việt kiều đã đề xuất tại hội nghị, xây dựng phương án chi tiết trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trong Quý II năm 1993.
+ Đồng ý cho Ban Việt kiều TW sử dụng cơ chế tư vấn của trí thức Việt kiều giúp Chính phủ trong một số lĩnh vực công tác thông qua đầu mối là Ban Việt kiều TW, trước mắt trong các lĩnh vực pháp luật, y dược, giáo dục đào tạo và chuyển giao công nghệ, văn hóa, du lịch và môi trường, kinh tế và tài chính. Ban Việt kiều TW tham khảo ý kiến của các Bộ ngành liên quan, xây dựng chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và quy chế hoạt động của các ban tư vấn trình Thủ tướng xem xét, quyết định.
Nhìn lại có thể thấy, nhiều nội dung đã được thực hiện, có việc nhanh sau đó, có việc 15 năm sau, và còn một số nội dung chưa thực hiện được.
Triển khai ngay cơ chế tư vấn, nhiều giáo sư trong và ngoài nước đề xuất nên sớm tổ chức một hội nghị tư vấn với nội dung giáo dục đại học Việt Nam trước thềm thế kỷ mới. Ban Việt kiều TW và Bộ Giáo dục và Đào tạo tích cực phối hợp chuẩn bị. Giáo sư Bộ trưởng Trần Hồng Quân và tôi đã trình đề án hội nghị tư vấn này với Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Bí thư TW Đảng, Trưởng ban Khoa giáo TW, rồi sau đó với Thủ tướng Võ Văn Kiệt, và nhận được sự đồng ý của hai đồng chí. Hội nghị tư vấn về giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỷ XXI đã được tổ chức Xuân Giáp Tuất, tháng 2. 1994.
Hơn 110 chuyên gia trong và ngoài nước, trong đó 43 người từ 11 nước bên ngoài về, đã làm việc trong suốt ba ngày liền, thảo luận sâu và không hề cảm thấy một sự ngăn cách nào, trên 7 chuyên đề: (1) Hệ thống giáo dục đại học về cơ cấu trình độ và cơ cấu loại trường; (2) Hệ thống giáo dục đại học phân bố trên lãnh thổ; (3) Vấn đề quản lý hệ thống đại học; (4) Những biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo đại học; (5) Những biện pháp để gắn giảng dạy và nghiên cứu khoa học với phát triển kinh tế xã hội; (6) Những biện pháp để tăng cường hợp tác quốc tế và huy động chuyên gia người Việt ở nước ngoài góp phần xây dựng giáo dục đại học Việt Nam; (7) Trong điều kiện GDP của Việt Nam còn thấp, có những biện pháp gì để có nguồn tài chính cần thiết cho giáo dục đại học. Đặc biệt, Bộ Giáo dục và đào tạo đã trưng cầu ý kiến của 110 chuyên gia về 36 chủ trương đổi mới đại học 3.
Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đánh giá cao ý nghĩa và kết quả của Hội nghị và khẳng định “trong sự nghiệp đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, cần có vai trò của trí thức, trong đó cần có sự đóng góp của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.”.
Giáo sư Trần Hồng Quân, Bộ trưởng, ngoài phần đánh giá kết quả của hội nghị đã nhất trí cùng với Ban Việt kiều TW triển khai ngay: (1) Thành lập Ban tư vấn về giáo dục và đào tạo bên cạnh Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, có các anh chị ở trong và ngoài nước tham gia. Trước mắt, trọng tâm tư vấn là giáo dục đại học; (2) Thành lập Ban điều phối tiếp nhận sự hợp tác của chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài; (3) Tổ chức công tác thông tin về giáo dục, trong đó có giáo dục đại học Việt Nam, cho anh chị em trí thức chuyên gia người Việt ở bên ngoài.
Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, trong số các công việc cần triển khai ngay, Ban Việt kiều TW, được sự chỉ đạo của nguyên Thủ tướáng Võ Văn Kiệt, đã phối hợp với các Bộ ngành liên quan, chuẩn bị trình Bộ Chính trị Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị Về chính sách và công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nghị quyết 08 đã được ban hành tháng 11.1993.
Văn kiện khẳng định “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”; “Tinh thần Người Việt Nam yêu nước Việt Nam phải vượt lên trên những khác biệt về tôn giáo, dân tộc, hoàn cảnh kinh tế, và cả sự khác nhau về chính kiến”.
Chính sách và công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải đáp ứng những yêu cầu chính là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; Nâng cao ý thức cộng đồng, tăng cường đoàn kết tương trợ, đùm bọc lẫn nhau, (…), cùng nhau gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và phẩm giá con người Việt Nam, tôn trọng luật pháp nước sở tại, hòa nhập với xã hội và nhân dân nước sở tại; Giúp kiều bào hiểu tình hình đất nước, phát huy khả năng góp phần xây dựng quê hương, kết hợp lợi ích của mình và của đất nước.
Trong các chính sách và biện pháp, văn kiện nêu rõ: Ưu tiên mời chuyên gia là người Việt Nam trong các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương với bên ngoài; Mời giáo sư và chuyên gia về giảng dạy ở các trường đại học, hoặc tham gia các chương trình nghiên cứu triển khai, kể cả trong lĩnh vực quản lý vĩ mô; thành lập Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thay Ban Việt kiều trung ương và kiện toàn cơ quan này 4.
Trong khoảng thời gian công tác ở Ban Việt kiều TW, và sau đó ở Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, tôi được tham gia đoàn của Thủ tướng Chính phủ trong các chuyến thăm chính thức Australia, Bỉ, CHLB Đức, Anh, Cu-ba và Cam-pu-chia. Điều này thể hiện mối quan tâm mà nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt dành cho công tác kiều bào. Trong mỗi chuyến công tác, mặc dù rất bận, nguyên Thủ tướng dành sự quan tâm gọi riêng tôi và những thành viên khác có liên quan để nhận xét và góp những ý kiến sâu sắc về công tác vận động cộng đồng người Việt ở địa bàn trong mối quan hệ với chính quyền nước sở tại. Trong chuyến công tác tại Cu-ba, nguyên Thủ tướng phân công tôi làm việc với các đồng chí Cu-ba, trao đổi kinh nghiệm trong công tác vận động kiều dân.
Một số chuyên gia người Việt ở nước ngoài đã có dịp làm việc với Thủ tướng, đề xuất những ý kiến tư vấn trên nhiều lĩnh vực. Thái độ ân cần, cởi mở, lắng nghe và chân tình trao đổi của nguyên Thủ tướng đã để lại ấn tượng khó quên về một nhân cách, và một tình cảm vừa kính trọng vừa gần gũi thân thương nơi người đối thoại, cho dù kiều bào đó là trí thức ở Pháp, ở CHLB Đức, ở Anh, nhà kinh tế, nhà báo ở Hoa Kỳ, nhà doanh nghiệp ở Australia, đã gặp hay mới tiếp xúc lần đầu.
Tháng 11.1997, Việt Nam sẽ tiếp nhận Hội nghị cấp cao lần thứ 7 Cộng đồng các nước sử dụng tiếng Pháp tại Hà Nội. Đây là lần đầu tiên Việt Nam tiếp đón một hội nghị quốc tế quy mô lớn, ở cấp nguyên thủ quốc gia. Tháng 3.1996, tôi nhận được quyết định thôi giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài 5 để nhận nhiệm vụ mới, Phó chủ tịch chuyên trách của Ủy ban Quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao 7. Tuy vậy, ở Quốc hội các khóa IX, X và XI, tôi tiếp tục quan tâm đến chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Bộ Chính trị đã ra một nghị quyết mới, Nghị quyết 36, phát triển thêm Nghị quyết 08 đã ban hành 10 năm trước đó, và được phổ biến rộng rãi. Tôi đã gửi gắm những gì thuộc về chính sách đối với kiều bào cần được “luật hóa” khi tôi được phân công soạn thảo “Kế hoạch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người VN ở nước ngoài”, được thông qua ngày 5.10.2004, mang số 262/UBTVQH11.
Để kết thúc bài viết, tôi xin mượn câu trả lời phỏng vấn của Phạm Quỳnh Anh, ca sĩ người Việt ở Bỉ, nổi tiếng với bài hát “Bonjour Vietnam”, trong chuyến về Việt Nam lần đầu tiên tháng 11.2008 vừa qua:
“Tôi hát Bonjour Vietnam khi chưa biết gì về Việt Nam và cảm nhận về quê cha đất tổ khá mơ hồ. Trong bài hát có nhắc đến Vịnh Hạ Long nhưng tôi chưa từng thấy. Tôi hát với tình cảm xa lạ, gần gũi lẫn lộn. Nay về Việt Nam được nhìn, được cảm nhận, được lắng nghe... được đặt chân đến Vịnh Hạ Long, tôi tin mình sẽ hát Bonjour Vietnam với cảm xúc hoàn hảo hơn, hay hơn.”
để nói lên niềm tin luôn ở trong tôi, được nguyên Thủ tướáng Võ Văn Kiệt tô đậm thêm: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất cần để hội nhập của Việt Nam không chỉ vươn ra với thế giới mà còn mang thế giới đến với Việt Nam, với những tinh hoa đậm tính nhân văn của dân tộc này.
_________________
1. Nghị định 03, ban hành ngày 18.1.1993, quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Việt kiều TW, cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng quản lý nhà nước và chỉ đạo công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2. 103 kiều bào từ 24 nước đã về dự. Xem “Kỷ yếu Hội nghị Việt kiều Xuân Quý Dậu 2/1993”, Ban Việt kiều TW, 1993.
3. Xem “Kỷ yếu Hội nghị chuyên đề về giáo dục đại học Việt Nam Xuân Giáp Tuất 2/1994”, Bộ Giáo dục và Đào tạo – Ban Việt kiều Trung ương, Hà Nội, 5.1994.
4. Ngày 30/7/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 74/CP, thay thế Nghị định 03, về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chỉ đạo lĩnh vực công tác người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thay thế Ban Việt kiều TW.
5. Từ tháng 10.1995, trong khuôn khổ cải cách hành chính nhà nước, nhằm sắp xếp lại bộ máy của Chính phủ, Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài thôi không còn là cơ quan trực thuộc Chính phủ và đưa về trực thuộc Bộ Ngoại giao.